Bản án 07/2018/HNST ngày 08/02/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 07/2018/HNST NGÀY 08/02/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 214/2018/TLST – HN ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐST – DS ngày 10/01/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Mỹ N, sinh năm 1980 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Vương Minh Q, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân: Chị N và anh Q chung sống với nhau năm 2001 do tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong công việc, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sau khi cải nhau Q bỏ nhà đi nên chị N và anh Q đã sống ly thân không còn liên lạc qua lại cho đến nay.

Nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh Vương Minh Q.

Về con chung: Chị N và anh Q có 02 con chung tên Vương Trương K, sinh ngày 03/03/2002 và Vương Trương Mỹ D, sinh ngày 25/6/2007, hiện hai cháu đang sống cùng chị N. Tòa cho ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung. Chị

Nương không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Vương Minh Q đã được Tòa án nhân dân huyện Tân Phước tống đạt hợp lệ, đầy đủ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Q không có mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho tòa án.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa cùng ý kiến phát biểu của kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xác định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh Q căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình xác định đây là tranh chấp “xin ly hôn”.

[2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Vương Minh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã L, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

[3] Về tố tụng: Xét thấy anh Vương Minh Q là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Tân Phước triệu tập hợp lệ đến phiên xét xử lần thứ hai nhưng anh Q không đến tham dự phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Q.

[4] Về hôn nhân: Chị N xin ly hôn với anh Q vì trong quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm, thường xuyên cải nhau, đầu năm 2017 sau khi cải nhau anh Q B bỏ nhà đi nên chị N và anh Q đã ly thân không còn liên lạc qua lại cho đến nay. Xét mâu thuẫn giữa chị N và anh Q lúc mới phát sinh là không lớn nhưng anh chị không tìm cách khắc phục để kéo dài ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, dẫn đến vợ chồng ly thân không có điều kiện hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân hiện tại không đạt được. Chị N xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q nhưng anh không đến tham dự phiên tòa cũng không có gửi ý kiến. Như vậy, cho thấy anh Q không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị N nên cần xem xét cho chị N được ly hôn với anh Q là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[5] Về con chung: Chị N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung là cháu Vương Trương K, sinh ngày 03/03/2002 và Vương Trương Mỹ D, sinh ngày 25/6/2007. Xét yêu cầu về con chung của chị Nlà phù hợp vì chị N là người đang trực tiếp chăm sóc hai con chung từ khi ang Q bỏ đi đến nay, để đảm bảo cho việc sinh hoạt, học tập của hai cháu không bị xáo trộn cần để chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Khi cần thiết vì quyền lợi của hai cháu chị N hoặc anh Q có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

[6] Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

[8] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẻ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Mỹ N đối với anh Vương Minh Q.

Về hôn nhân: Chị Trương Mỹ N được ly hôn với anh Vương Minh Q.

Về con chung: Giao hai cháu Vương Trương K, sinh ngày 03/03/2002 và Vương

Trương Mỹ D, sinh ngày 25/6/2007 cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị N chưa yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Q được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí: Chị Trương Mỹ N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 18871 ngày 11/10/2017 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước. Vậy chị N đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với anh Vương Minh Q thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày tòa tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNST ngày 08/02/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về