Bản án 07/2018/HS-ST ngày 05/02/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 07/2018/HS-ST NGÀY 05/02/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2017/TLST-HS, ngày 18 tháng 12 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2018, đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1978, tại Hải Phòng; ĐKNKTT và trú tại: Đường P, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Nguyễn Thị A và có một con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/9/2017, chuyển tạm giam từ ngày 28/9/2017; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 26/9/2017, Phạm Văn Đ đi bộ từ nhà ở  đường P, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng đến khu vực đường L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đ gặp và mua của một người đàn ông tên H (hiện chưa xác định căn cước và lai lịch) một túi nilon chứa ma túy đá với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Đ nhận ma túy và cất vào túi quần bên trái phía trước rồi đi về đến trước cửa nhà số 340, đường L, phường P, quận H thì bị lực lượng Công an quận H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Đ một túi nilon chứa tinh thể màu trắng và số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), đưa về trụ sở Công an phường P giải quyết.

Tại bản Kết luận giám định số: 1037/KLGĐ, ngày 28/9/2017, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon thu giữ của Phạm Văn Đ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 2,2746 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận đã thực hiện hành vi cất dấu, tàng trữ một lượng ma túy là 2,2746 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an quận H bắt giữ quả tang cùng tang vật tại khu vực trước cửa nhà số 340, đường L, phường P, quận H vào hồi 10 giờ, ngày 26/9/2017, như nội dung nêu trên.

Cáo trạng số: 80/CT-VKS, ngày 12/12/2017, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Đ như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Đ với mức án từ 30 đến 36 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 26/9/2017. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 46 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong tinh thể có thành phần Methamphetamine còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 1037/PC54, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.

Đối với số tiền 800.000 đồng (tiền Việt Nam) đã thu giữ của Phạm Văn Đ. Xét đây là tài sản riêng của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ.

- Đối với người đàn ông tên H, là người bán ma túy cho Đ, tài liệu điều tra chưa xác định được căn cước và lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Nội dung lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ về hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện, tuân thủ đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận về hành vi cất giấu, tàng trữ 2,2746 gam ma túy là Methamphetamine với mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị Công an quận H bắt giữ quả tang cùng tang vật tại khu vực trước cửa nhà số 340, đường L, phường P, quận H, vào hồi 10 giờ, ngày 26/9/2017. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm do hành vi của mình gây ra những vẫn thực hiện các hành vi nêu trên với lỗi cố ý trực tiếp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của  người làm chứng và phù hợp với tang vật đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bởi biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang được lập hồi 10 giờ, ngày 10/9/2017, tại Công an phường P, quận H, Hải Phòng.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn Đ đã có đủ yếu tố để cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", được quy định tại Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội danh tương ứng được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như tại giai đoạn điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tình tiết giảm nhẹ này được áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra vào ngày 26/9/2017, nhưng đến khi tiến hành xét xử bị cáo là sau ngày 01/01/2018, là ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành. Hội đồng xét xử phân tích so sánh các điều khoản tương ứng tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù) có quy định hình phạt nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù) mà Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, theo hướng có lợi cho bị cáo để quyết định hình phạt để đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật cũng như đảm bảo quyền lợi cho bị cáo khi quy định của pháp luật có sự thay đổi.

Xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, thấy: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 được tách ra và quy định hình phạt xu hướng giảm nhẹ hơn so với Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhưng tại điểm c khoản 1 Điều 249 lại quy định về lượng của Methamphetamine là từ 0,1 gam đến dưới 0,5 gam cùng loại với các chất ma túy khác là Hêrôin và Côcain là không có lợi cho bị cáo so với quy định về lượng Methamphetamine theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Do vậy, khi xem xét, đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mức hình phạt mà Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc.

[6] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, năm 2008 cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm GD-LĐXH Hải Phòng tại xã G, huyện T vào năm 2015 cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm GD-LĐXH số 2 tại xã Đ, huyện T1. Lần này bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chứng tỏ bị cáo chưa có ý thức quyết tâm từ bỏ ma túy, do vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo là người không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau:

Số ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là Methamphetamine được niêm phong trong phong bì thư có dấu niêm phong số: 1037/PC54, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 800.000 đồng (tiền Việt Nam) đã thu giữ của Phạm Văn Đ. Xét đây là tài sản riêng của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ.

[9] Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Điều, tài liệu điều tra chưa xác định được căn cước và lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 26 tháng 9 năm 2017.

Căn cứ vào Điều 46 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong tinh thể có thành phần Methamphetamine còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 1037/PC54, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ số tiền 800.000 đồng (hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, theo biên lai số: AA/20107228, ngày 18 tháng 12 năm 2017).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HS-ST ngày 05/02/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:07/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hồng Bàng - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về