Bản án 07/2018/HSST ngày 07/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 07/2018/HSST NGÀY 07/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số05/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A X, sinh năm 1980 tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKNKTT: xã M, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Thôn P – xã Q – huyện K- tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; con ông Giàng A X1 (đã chết) và con bà Thò Thị M (đã chết); Vợ: Thào Thị G, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Giàng A X: Ông Hoàng Ngọc T và bà Nguyễn Thị X– Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông (Ông T có mặt, bà X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 02/11/2017, Giàng A X đang ở nhà thì có một người đàn ông (không xác định được lai lịch) đến nhà X, người đàn ông nói nhờ X giúp mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng và hứa sẽ trả công cho X là 200.000 đồng. X đồng ý, người đàn ông đưa trước cho X số tiền 500.000 đồng và nói khi nào mua được ma túy về sẽ đưa nốt số tiền 2.500.000 đồng. X cầm tiền và đi vào rừng thuộc thôn P- xã Q – huyện K gặp P (không xác định được lai lịch) để mua ma túy. Khi gặp P thì X nói với P về việc một người đàn ông nhờ mua 3.000.000 đồng ma túy, đưa trước 500.000 đồng khi nào mua được sẽ đưa số tiền còn lại. P đồng ý lấy trong người ra một cục ma túy và cắt ra một nửa, P gói ma túy vừa cắt vào trong một túi ni lông màu đen và đưa cho X, P nói với X số ma túy trị giá 3.000.000 đồng, X đưa trước cho P 500.000 đồng còn lại 2.500.000 đồng sẽ đưa khi nào người đàn ông đó đưa cho X. X bỏ số ma túy vừa mua của P vào túi quần bên phải và đi về nhà. Trên đường về nhà, khi X đến khu vực thôn P- xã Q –huyện K – tỉnh Đắk Nông thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô bắt quả tang X cùng tang vật.

Kết luận giám định số 73/PC54 ngày 6/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Nông, kết luận chất rắn màu trắng gửi giám định là chất ma túy Hêrôin, trọng lượng là 3,2439 gam.

Cáo trạng số 05/CTr-VKS, ngày 01/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Giàng A X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Giàng A X đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô và thừa nhận VKS truy tố bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô giữnguyên  quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 05/CTr-VKS, ngày 01/02/2018. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc Hội; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Giàng A X từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ 2,0212 gam Hêrôin còn lại sau giám định được đựng trong 01(môt) bì thư số 73 đã được dán kín và đóng dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông; đối với 01 (một)điện thoại di động nhãn hiệu Q.Mobile màu đen, viền trắng, TMEL 356452030613, điện thoại đã qua sử dụng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án. Bị cáo không bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo Giàng A X trình bày quan điểm bào chữa:

Người bào chữa cho rằng bị cáo Giàng A X bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, đề nghị áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và trả lại chiếc điện thoại là tài sản hợp pháo của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Giàng A X là người nghiện ma túy. Ngày 02/11/2017 Giàng A X được một người đàn ông nhờ mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), người đàn ông đưa trước cho Giàng A X số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và hẹn khi nào X mua xong sẽ đưa hết số tiền còn lại là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đồng thời trả công cho X số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó Giàng A X đi vào rừng thuộc thôn P, xã Q gặp đối tượng tên P để mua ma túy, sau khi mua được ma túy X bỏ số ma túy vào túi quần bên phải và đi về nhà. Trên đường đi về nhà đến khu vực thôn P, xã Q thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô bắt quả tang cùng tang vật.

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông nhờ Giàng A X mua ma túy và đối tượng tên P người bán ma túy cho Giàng A X. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với khối lượng Hêrôin thu giữ trên người của Giàng A X là 3,2439 gam, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, do chính sách pháp luật hình sự thay đổi theo hướng có lợi cho bị cáo. Vì vậy, theo điểm b khoan 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam do Quốc hội ban hành; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Giàng A X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất Ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy (Hêrôin) là vi phạm pháp luật và những tác hại của ma túy gây ra, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, đề nghị áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được chứng cứ cho tình tiết giảm nhẹ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để áp dụng khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

[5] Về các biện pháp tư pháp: đối với 2,0212 gam Hêrôin còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành được đựng trong 01 (môt) bì thư số 73 đã được dán kín và đóng dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông cần tịch thu tiêu hủy; đối với (một) điện thoại di động nhãn hiệu Q.Mobile màu đen, viền trắng, TMEL 356452030613 là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Đối với hành vi nhờ Giàng A X mua ma túy của người đàn ông và hành vi bán ma túy của đối tượng tên P, trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Giàng A X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Giàng A X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (02/11/2017).

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 2,0212 gam Hêrôin còn lại sau giám định được đựng trong 01 (môt) bì thư số 73 đã được dán kín và đóng dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông;

Trả lại cho bị cáo Giàng A X 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Q.Mobile màu đen, viền trắng, TMEL 356452030613. (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/02/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô và Chi cục  THADS huyện Krông Nô).

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Giàng A X phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về