Bản án 07/2019/HNGĐ-PT ngày 09/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-PT NGÀY 09/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 9/4//2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2018/TLPT-HNGĐ ngày 10/9/2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 855/2018/HNGĐ-ST ngày 03/7/2018 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1326/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P), sinh năm: 1965; Địa chỉ: S R R3Y 0J8 S MB Canada. Tạm trú: đường Th, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đinh Văn Đ – Luật sư Văn phòng Luật sư N thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần Tô N, sinh năm: 1964; Địa chỉ: đường L, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn B – Luật sư Văn phòng Luật sư T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và bản án sơ thẩm số 855/2018/HNGĐ-ST của TAND Tp. Hồ Chí Minh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2003, bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P) và ông Trần Tô N tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 999, quyển số 06 ngày 17.3.2003). Sau khi kết hôn, do bà X đang sinh sống và làm việc ở Canada nên phải thường xuyên đi về giữa 02 nước, vợ chồng không có điều kiện ở gần nhau, đến năm 2009 mẹ chồng mất, ông N yêu cầu bà X ở lại Việt Nam sinh sống nhưng bà đang có công việc ổn định tại Canada nên không thể ở lại theo yêu cầu của ông N, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Bà X cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã gay gắt, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.

Về con chung: không có. Về tài sản chung và nợ chung: Bà X đã rút yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà số Ô 32B, lô J49, Khu dân cư M, xã P, huyện B, tỉnh Bình Dương và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Tuy nhiên, ngày 04.01.2018, ông N gửi đơn với nội dung không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P) đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp cả phần tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 855/2018/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 7 năm 2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P).

2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P).

- Về quan hệ vợ chồng: Bà bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P) được ly hôn với ông Trần Tô N.

- Về con chung: Không có.

- Phần tài sản chung, nợ chung giữa bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P) và ông Trần Tô N (nếu có), sau này nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/7/2018, ông Trần Tô N  Bản án sơ thẩm số 855/2018/HNGĐ-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị giải quyết phần nợ của ông đã vay của bà Lê Kim A là 896.000.000 đồng cùng với giải quyết việc ly hôn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng điểm 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa một phần án sơ thẩm, giải quyết luôn phần công nợ trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: bị đơn kháng cáo trong hạn luật định; việc bà X vắng mặt (dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2) tại phiên tòa không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các bên, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa.

Về nội dung: kháng cáo của bị đơn yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung không ghi rõ giá ngạch, mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải thích và thông báo, nhưng bị đơn không thực hiện. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vào giải quyết trong vụ án này là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị đơn, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn Trần Tô N kháng cáo trong hạn luật định, nên kháng cáo của bị đơn được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy: trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết phần tài sản chung và nợ chung giữa ông và bà Trần Thị X (Tran Cathy Thanh P); ngày 08/01/2018, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Thông báo yêu cầu ông N trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo phải có văn bản trình bày rõ yêu cầu của mình kèm theo tài liệu, chứng cứ cần thiết đối với phần tài sản chung và nợ chung để Tòa án có cơ sở xem xét. Đến ngày 05/02/2018, bị đơn mới có văn bản gửi cho Tòa án, trong đơn này ông N cũng chỉ yêu cầu Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn theo đơn của nguyên đơn thì phải xem xét luôn cả phần tài sản và nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, hoàn toàn không đưa ra yêu cầu cụ thể đối với phần tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không có cơ sở để ban hành thông báo cho ông N nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Với lý do nói trên, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của ông N trong vụ án này là có căn cứ và đúng pháp luật.

Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã nhận định rằng phần tài sản chung, nợ chung giữa nguyên đơn và bị đơn (nếu có), sau này nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật. Vì vậy, bị đơn vẫn có quyền khởi kiện nguyên đơn bằng một vụ kiện khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn và luật sư bảo vệ cho bị đơn tham gia phiên tòa không đưa ra các tài liệu, chứng cứ nào mới, do đó yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: bị đơn không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Tô N. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 855/2018/HNGĐ-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn ông Trần Tô N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0049296 ngày 07/8/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-PT ngày 09/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về