Bản án 08/2018/HS-PT ngày 08/01/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 08/2018/HS-PT NGÀY 08/01/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 08 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 574/2017/TLPT-HS ngày 18/10/2017 đối với bị cáo Lê Minh T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 194/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

1/ Lê Minh T; sinh ngày 07/8/1958 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Ký C, phường Nguyễn Thái N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn D (chết); con bà: Đặng thị Đ (chết); có vợ là Chương Kim Khánh và 03 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: 01/3/2017 đến 19/5/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại (có mặt).

2/ Hứa Canh P; sinh ngày 16/10/1967 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: L, phường Nguyễn Thái N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hứa Canh H (chết); con bà: Nguyễn Thị G (chết); có vợ là Nguyễn Thị Lệ E và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 10/9/2008 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm; tạm giam: từ 01/3/2017 đến 19/5/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2017 Lê Minh T, Lục Chí L, Huỳnh Văn H và Lê Văn G tham gia đánh bạc bằng hình thức binh xập xám thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng tại nhà của T đường Ký C, phường Nguyễn Thái N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhóm quy ước 01 “chến” bạc là 2.000.000 đồng, tính tiền theo chi là 50.000.000 đồng. Sử dụng 01 bộ bài có 52 lá, trong đó mỗi con bạc được chia 13 lá bài sắp xếp làm 3 chi bài theo thứ tự 03 lá bài, 05 lá bài và 05 lá bài. Sau đó các con bạc (04 người) so sánh các chi với nhau. 01 con ách tính 04 chi, người chơi không có ách thì thua 04 chi. Trường hợp một nhà có 04 lá ách thì ba nhà còn lại mỗi nhà thua 08 chi. Ngoài ra người chơi có 03 thùng thì ăn ba người chơi còn lại mỗi nhà 06 chi. Người chơi có tứ quý thì tính ăn mỗi người chơi khác 04 chi. Sau đó 04 người chơi tính số chi thắng hoặc thua trong 01 ván bài rồi chung tiền. Tiền xâu là 50.000 đồng/con bạc/chến sẽ do T thu. Đánh xong “chến” thứ nhất, T thu tiền xâu là 150.000 đồng (do trừ tiền xâu của T 50.000 đồng). Sau “chến” thứ nhất, T nghỉ chơi, P vào thay T đánh “chến” thứ hai. Đánh xong “chến” thứ hai, T thu tiền xâu 200.000 đồng. Sau “chến” thứ hai G nghỉ chơi và đi về nhà, K vào thay G đánh “chến” thứ ba. Khi L, H, K, P đang đánh “chến” thứ ba thì bị Công an Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang giao T, L, H, P, K cùng vật chứng cho Công an phường Nguyễn Thái N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra xác định, hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Lê Minh T cho các con bạc mượn địa điểm để đánh bạc và thu tiền xâu 50.000 đồng/con bạc/chến. Do lúc đầu chưa đủ người chơi nên T cùng chơi đánh bạc với H, L, G. Đánh xong “chến” thứ nhất, T thu 150.000 đồng tiền xâu (đã trừ 50.000 tiền xâu T phải đóng). Xong chến thứ 2, T thu 200.000 đồng tiền xâu. Còn chến thứ 3 đang đánh chưa thu được tiền xâu thì bị bắt. Khi bị bắt thu giữ trong người T 3.400.000 đồng, trong đó 350.000 đồng là tiền xâu thu được, thắng được 50.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc và tiêu xài cá nhân.

Lục Chí L mang theo 3.000.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt thua hết 1.100.000 đồng, trả tiền xâu 100.000 đồng, còn lại 1.800.000 đồng bị thu từ trên chiếu bạc.

Huỳnh Vĩnh V mang theo 3.100.000 đồng, sử dụng 3.100.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt thắng được 900.000 đồng, trả tiền xâu 100.000 đồng. Khi bị bắt, thu giữ trên chiếu bạc 2.800.000 đồng, thu trên người 1.100.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc. Hứa Canh P mang theo 3.500.000 đồng, sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt thắng được 250.000 đồng, trả tiền xâu 50.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 1.500.000 đồng, thu trên người 2.200.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc.

Trần Tuấn K mang theo 3.000.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, đến lúc bị bắt thua hết 150.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 1.850.000 đồng, thu trên người 1.000.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc. 

Lê Văn G mang theo 2.400.000 đồng, sử dụng 2.400.000 đồng dùng để đánh bạc, đánh 2 “chến” thắng được 150.000 đồng, trả tiền xâu 100.000 đồng thì nghỉ chơi. Số tiền trên đã dùng mua đồ buôn bán hết.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 194/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T và Hứa Canh P phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Lê Minh T 01 (một) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ 01/3/2017 đến 19/5/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Hứa Canh P 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ 01/3/2017 đến 19/5/2017.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác 06 tháng tù nhưng được hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2017 các bị cáo Lê Minh T và Hứa Canh P làm đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp và trong hạn luật định đã đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo P.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh T và Hứa Canh P khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên, các quyết định của bản án sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

[2] Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2017 tại nhà đường Ký C, phường Nguyễn Thái N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh T, Hứa Canh P cùng đồng bọn đã tham gia đánh bạc bằng hình thức binh xập xám thắng thua bằng tiền. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T và P về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng và là một trong những nguyên nhân làm P sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.

Theo hướng dẫn điểm a mục 4 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này”.

Như vậy, số tiền của Lê Minh T dùng để đánh bạc được xác định là tổng số tiền mà các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với T gồm: 3.000.000 đồng (T) + 3.000.000 đồng (L) + 2.400.000 đồng (G) + 3.100.000 đồng (H) = 11.500.000đồng.

Số tiền của Hứa Canh P dùng để đánh bạc được xác định là tổng số tiền mà các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với P gồm: 3.500.000 đồng (P) + 3.000.000 đồng (Liêm) + 2.400.000 đồng (Bình) + 3.000.000 đồng (Kiệt) + 3.100.000 đồng (Phước) = 15.000.000 đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo T và P về tội “Đánh bạc” là có căn cứ.

[3] Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ như như các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Lê Minh T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo T xuất trình thêm Giấy chứng nhận có quá trình tham gia Thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh từ 26/3/1977 đến ngày 01/5/1979; bị cáo lại bị viêm dạ dày, đau khớp gối, thiếu máu não, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch cảnh, thoái hóa khớp gối. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T có phần nghiêm khắc nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hứa Canh P có nhân thân xấu: ngày 10/9/2008 đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Tuy nhiên vào tháng 4/2013, bị cáo P đã chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí, nộp phạt, số tiền thu lợi bất chính và đã được xóa án tích nên bị cáo không có tiền án, tiền sự. Do vậy, lần phạm tội này của P là phạm tội lần đầu và thuộc trường trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự cho bị cáo P. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P không xuất trình thêm tình tiết nào mới để xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với P là đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như phù hợp với nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho Lê Minh T, giữ nguyên mức hình phạt đối với Hứa Canh P là phù hợp. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và sửa một phần bản án sơ thẩm cho đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi tội phạm. Các quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo P là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo P.

[4] Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Lê Minh T; không chấp nhận kháng cáo của Hứa Canh P; giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo P.

[5] Bị cáo Lê Minh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Hứa Canh P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh T, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Không chấp nhận kháng cáo của Hứa Canh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố Lê Minh T và Hứa Canh P phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:

1/Xử phạt: Lê Minh T 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, được trừ đi thời gian tạm giam trước từ ngày 01/3/2017 đến ngày 19/5/2017.

2/ Xử phạt: Hứa Canh P 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 01/3/2017 đến 19/5/2017. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc:

Bị cáo Lê Minh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Hứa Canh P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về