Bản án 08/2019/DS-ST ngày 18/09/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 08/2019/DS-ST NGÀY 18/09/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 18/9/2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm V án dân sự thụ lý số 07/2019/TLST-DS ngày 13/02/2019 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo quyết định đưa V án ra xét xử số 06 ngày 06/8/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 12 ngày 27/8/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Trương Đức V, sinh năm 1992, trú tại thôn Năm Mẫu 1, xã Thượng Yên Công, Tp. Uông Bí, Quảng Ninh, có mặt;

- Bị đơn: anh Lưu Ngọc T, sinh năm 1976, trú tại thôn Năm Mẫu 1, xã Thượng Yên Công, Tp. Uông Bí, Quảng Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện ngày 05/01/2019 nguyên đơn là anh Trương Đức V trình bày: Vào ngày 29/10/2018 anh và bị đơn là anh Lưu Ngọc T có lời qua tiếng lại trong lúc chơi bài tại nhà anh Phạm Văn L ở thôn Năm Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, sau đó anh T bất ngờ đứng dậy đá vào mồm anh làm chảy máu gẫy răng, anh được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí từ ngày 29/10/2018 đến ngày 19/11/2018, sau đó cơ quan điều tra đưa anh đi giám định thương tích, kết quả bị thương tích 03%. Nay anh yêu cầu bị đơn bồi thường cho anh những khoản tiền sau:

(1) Tiền viện phí và tiền thuốc: 4.535.465 đồng (2) Tiền chứng thương: 200.000 đồng (3) Tiền thuốc: 3.790.000 đồng (4) Tiền thuốc: 6.250.000 đồng (5) Tiền lắp 03 chiếc răng giả: 21.000.000 đồng (6) Tiền nghỉ làm 01 tháng của nguyên đơn: 6.500.000 đồng (7) Tiền người nhà trông nom khi nằm viện: 6.500.000 đồng (8) Tiền bồi thường phần trăm sức khỏe, tinh thần: 30.000.000 đồng Tổng cộng: 78.775.465 đồng Tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại như trên. Ngoài ra, tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày vào thời điểm xảy ra sự việc anh làm việc tự do, không có hợp đồng lao động.

Ti bản tự khai ngày 26/4/2019, bị đơn là anh Lưu Ngọc T trình bày: Anh không đồng ý với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn vì anh thấy nguyên đơn đòi bồi thường quá cao so với mức độ và tính chất sự việc. Lỗi sai cũng không phải do anh vì nguyên đơn đã xúc phạm, chửi và đe dọa anh, vì vậy anh không làm chủ được bản thân nên đã đứng dậy đá nguyên đơn. Kinh tế gia đình anh cũng rất khó khăn, không đáp ứng được sự đòi hỏi của nguyên đơn, quan điểm của anh là chỉ hỗ trợ viện phí là 15.000.000 đồng.

Ti phiên tòa anh T thừa nhận việc anh đã dùng chân đá vào miệng gây thương tích cho nguyên đơn như nguyên đơn đã trình bày, trong quá trình điều tra anh cũng có lời khai (bút lục số 88) thừa nhận sự việc này, đối với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn anh vẫn giữ nguyên quan điểm chỉ hỗ trợ 15.000.000 đồng tiền viện phí như trong bản tự khai đã nộp lên tòa án.

Tài liệu do công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh cung cấp thể hiện: Ngày 05/11/2018, công an xã Thượng Yên Công tiếp nhận nguồn tin của nguyên đơn là anh Trương Đức V trình báo việc bị đơn gây thương tích cho anh khiến anh phải đi điều trị tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí (bút lục 59).

Sau đó nguyên đơn được đưa đi giám định thương tích, kết luận số 109- 2018/GĐTT ngày 14/12/2018 của Trung tâm giám định Pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận: dấu hiệu chính qua giám định là gãy ½ thân răng R11 (0,75%), mẻ ¼ thân răng R21 (0,75%), sẹo môi dưới bên phải, sẹo mờ niêm môi dưới phải: 01%. Tổng cộng tỉ lệ thương tích là 03%. Ngoài ra còn lung lay độ 2 các răng R11, R21, R22, R31, R32, R41, R42.

Ti biên bản xác minh ngày 23/8/2019, bác sĩ trực tiếp khám và lắp răng cho anh V là ông Đào Đức H cung cấp thông tin như sau: Ngày 01/01/2019, anh V đến trung tâm nha khoa Đức H yêu cầu lắp răng giả, ông H đã khám và lắp răng giả số R11 cho anh V, đối với răng R42 bị lung lay, để đảm bảo lắp răng giả được chắc chắn nên đã phải làm cầu răng nối giữa răng R42 và R43, ký hiệu CR trong phiếu khám bệnh là cầu răng, M:A3 là màu răng A3, chất liệu sứ nacera cao cấp.

Ngày 07/01/2019, công an thành phố Uông Bí đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC đối với bị đơn, anh T sau đó đã nộp phạt số tiền 2.500.000 đồng vào ngân sách nhà nước (bút lục 100 và 101).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý V án, hoạt động giải quyết của Thẩm phán đảm bảo đúng quy định của Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm V án.

Về nội dung:

- Trong V việc này, bị đơn đã có hành vi dùng chân đá vào miệng nguyên đơn gây thương tích 03%. Hành vi của bị đơn tuy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đã vi phạm pháp luật hành chính, xâm phạm sức khỏe đối với nguyên đơn. Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự, người gây ra thiệt hại về sức khỏe cho người khác phải có trách nhiệm bồi thường, vì vậy, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật.

- Xác định thiệt hại: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của nguyên đơn, cụ thể là chấp nhận như sau: tiền chứng thương, viện phí là 4.535.465 đồng và 200.000 đồng; chấp nhận tiền lắp răng giả 21.000.000 đồng; chấp nhận tiền nghỉ làm của nguyên đơn 22 ngày tính theo L tối thiểu vùng ở Uông Bí là 2.720.600 đồng; chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần bằng 01 tháng L cơ sở là 1.490.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng số tiền đề nghị chấp nhận là: 4.535.465 + 200.000 + 21.000.000 + 2.720.600 + 1.490.000 = 29.946.100 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về thủ tục tố tụng: V án “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Đi với yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn Trương Đức V: căn cứ lời khai của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ V án, đủ cơ sở khẳng định vào ngày 29/10/2018 tại nhà anh Phạm Văn L ở thôn Năm Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, bị đơn là anh Lưu Ngọc T đã có hành vi dùng chân đá vào miệng nguyên đơn là anh Trương Đức V, gây thương tích sức khỏe cho anh V với tỉ lệ tổn thương là 03%.

Hành vi của bị đơn tuy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đã vi phạm pháp luật hành chính, xâm phạm sức khỏe đối với nguyên đơn. Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự, người gây ra thiệt hại về sức khỏe cho người khác phải có trách nhiệm bồi thường, vì vậy, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về xác định thiệt hại:

+ Đối với tiền chứng thương và tiền viện phí theo mục (1) và (2) bảng thống kê trên: Những khoản tiền này có hóa đơn của bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, là tiền chi trả cần thiết, có cơ sở nên chấp nhận.

+ Đối với tiền thuốc theo mục (3) và (4) bảng thống kê trên: Hai khoản tiền này là tiền nguyên đơn mua thuốc tại nhà thuốc Minh Kết, có hóa đơn bán lẻ, tuy nhiên những thuốc này nguyên đơn tự mua bên ngoài, không theo chỉ định của cơ sở điều trị là bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận.

+ Đối với tiền lắp 03 răng giả theo mục (5) bảng thống kê: Theo hóa đơn của Trung tâm nha khoa Đức Hùng thì ngày 01/01/2019 nguyên đơn đã đến trung tâm lắp 03 răng giả là R11, cầu răng nối R42 và R43, màu A3, bằng sứ cao cấp Nacera với số tiền là 03 răng x 7.000.000 đồng = 21.000.000 đồng.

Theo kết luận giám định thì R11 bị gãy ½ thân răng, R42 bị lung lay độ 2, việc nguyên đơn phải lắp răng giả là hậu quả trực tiếp từ hành vi gây thương tích của bị đơn gây ra, vì vậy có cơ sở chấp nhận, việc làm cầu răng nối giữa R42 và R43 là cần thiết để đảm bảo độ chắc chắn cho răng R42, như vậy, chấp nhận tiền bồi thường để lắp răng tính cho ba chiếc răng là: 03 x 7.000.000 đồng = 21.000.000 đồng.

+ Đối với tiền nghỉ làm của nguyên đơn: thời điểm xảy ra sự việc nguyên đơn không có công việc ổn định, không có hợp đồng lao động, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ mức L tối thiểu vùng khu vực Uông Bí (khu vực 2) theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP để tính tiền bồi thường cho nguyên đơn trong 22 ngày điều trị tại bệnh viện. Cụ thể như sau: 22 ngày x (3.710.000 đồng : 30 ngày) = 2.720.600 đồng.

+ Đối với tiền công người nhà chăm sóc: xét thấy thương tích của nguyên đơn chỉ có 03% và chỉ bị ở phần răng, hoạt động đi lại sinh hoạt của nguyên đơn vẫn thực hiện được bình thường, ngoài ra, yêu cầu đối với tiền nghỉ làm của nguyên đơn đã được chấp nhận, vì vậy tiền công cho người nhà chăm sóc không phù hợp nên không chấp nhận.

+ Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự, yêu cầu đòi bồi thường tổn thất tinh thần của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật, tuy nhiên, do thương tích ở mức 03% nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận bồi thường bằng 01 tháng L cơ sở theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 là 1.490.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng số tiền được chấp nhận là: 4.535.465 + 200.000 + 21.000.000 + 2.720.600 + 1.490.000 = 29.946.100 đồng.

[4] Về án phí dân sự: Nguyên đơn được miễn án phí theo quy định pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự; Điểm b khoản 1 Điều 3, Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường V Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Đức V về việc buộc bị đơn Lưu Ngọc T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

2. X: Buộc bị đơn Lưu Ngọc T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn Trương Đức V số tiền là 29.946.100 (Hai mươi chín triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Trương Đức V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị đơn Lưu Ngọc T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nguyên đơn Trương Đức V. Bị đơn Lưu Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.497.300 (Một triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm) đồng vào ngân sách nhà nước.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


10
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về