Bản án 08/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 08/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H

Địa chỉ: thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thế N

Địa chỉ: xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2018 và các tài liệu chứng cứ, nguyên đơn của bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thế N sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1989, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có họ hàng đôi bên chứng kiến nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tính cách khác nhau, bàn luận làm ăn trong gia đình không cùng chung chí hướng, nên vợ chồng thường xuyên cãi vả đánh chửi nhau. Từ năm 2013 đến nay thì vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa. Từ tháng 4-2018 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án công nhận bà và ông N quan hệ không là vợ chồng.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thế H, sinh năm 1991; Nguyễn Thị P, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2000. Hiện nay ba con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản:

Tài sản chung: Vợ chồng đã thỏa thuận được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện D số tiền vay gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi. Số tiền vay vốn sinh viên 12.000.000 đồng. Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nợ chung. Ngoài ra, bà xác định không nợ cá nhân, tổ chức nào khác.

Ông Nguyễn Thế N trình bày: Ông thừa nhận bà H trình bày như trên là hoàn toàn đúng. Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1989, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có họ hàng đôi bên chứng kiến nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bà H không tôn trọng ông. Từ năm 2013 đến nay thì vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa. Từ tháng 4-2018 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu Tòa án công nhận ông và bà H quan hệ không là vợ chồng thì tôi đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thế H, sinh năm 1991; Nguyễn Thị P, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2000. Hiện nay ba con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản:

Tài sản chung: Vợ chồng đã thỏa thuận được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện D. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung.

Tòa án đã Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện D (Vbsp), nhưng đến nay Ngân hàng không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và không có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án, không thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định, vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà H, không công nhận quan hệ giữa bà H và ông N là vợ chồng. Về con chung và tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Hường phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Hường có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông N là vợ chồng. Ông N hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà H và ông N tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1989, đến nay chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được, từ tháng 4-2018 đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà H yêu cầu ly hôn ông N là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà H và ông N có ba con chung là Nguyễn Thế H, sinh năm 1991; Nguyễn Thị P, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2000. Hiện nay ba con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình, nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản nợ chung của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 144; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án .

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thế N là vợ chồng.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/0009256 ngày 03 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà H đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:08/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về