Bản án 08/2019/HS-ST ngày 07/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 08/2019/HS-ST NGÀY 07/06/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/HSST, ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Âu Đình D, sinh năm 1977; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện M, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Âu Đình C và bà Tạ Thị Ch; Chưa có vợ, con; Tiền án: 01. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và phạt bổ sung 5.000.000đ theo bản sán số: 14/2014/HS ngày 24/6/2014; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/10/2018 đến ngày 14/10/2018 thì được hủy bỏ Quyết định tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 05/10/2018, tại khu vực thôn A , xã H, huyện M, tỉnh Bắc Kạn. Tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn phát hiện đối tượng Âu Đình D có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra và phát hiện thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải D đang mặc 04 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, D khai đó là ma túy, loại Heroin, tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong trong phong bì ký hiệu "D" và đưa D về trụ sở Công an huyện Chợ Mới để làm rõ.

Tại cơ quan điều tra Âu Đình D khai: 04 gói chất bột màu trắng Công an đã thu giữ trong túi quần D đang mặc là ma túy, do sáng 05/10/2018 sau khi D uống Methadone tại Trung tâm Y tế huyện M, tỉnh Bắc Kạn, D ra đến cổng Trung tâm Y tế huyện M, D mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 04 gói ma túy với giá 200.000đ mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu tại túi quần đang mặc và đi về nhà. Đến khoảng 9 giờ 45 phút cùng ngày D đem số ma túy đó ra khỏi nhà, tìm chỗ để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện và bắt giữ.

Tại biên bản đóng mở niêm phong ngày 05/10/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của Âu Đình D có khối lượng là 0,149 gam, sau khi cân được niêm phong trong phong bì ký hiệu "D1" để gửi trưng cầu giám định; phong bì cũ và giấy gói được niêm phong phong bì kí hiệu "D2".

Tại kết luận giám định số: 119/KTHS-MT ngày 25/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Kạn kết luận mẫu chất bột màu trắng có trong phong bì kí hiệu "D1" gửi tới giám định là chất ma tuý, loại Hêrôin có khối lượng là 0,149 gam. Sau khi giám định, mẫu chất bột trong phong bì ký hiệu "D1" còn lại là 0,120 gam cùng phong bì, giấy gói cũ được niêm phong bằng phong bì mới ký hiệu "T119" hoàn trả cho cơ quan trưng cầu giám định.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và không có ý kiến hay khiếu nại gì về khối lượng ma túy cũng như kết luận giám định.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSCM ngày 09/5/2018 của VKSND huyện Chợ Mới truy tố bị cáo Âu Đình D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Âu Đình D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS: Xử phạt Âu Đình D từ 30 đến 36 tháng tù, được trừ thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 05/10/2018 đến 14/10/2018).

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì kí hiệu D2 bên trong có chứa vỏ niêm phong ban đầu và giấy gói cũ; 01 phong bì kí hiệu T119 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ và 0,120 gam ma túy.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Âu Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05/10/2018, Âu Đình D đã có hành vi mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 04 gói nhỏ ma túy với giá 200.000đ. D cất giấu trong túi quần mục đích để sử dụng cho bản thân và đã bị cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới phát hiện và bắt giữ.

[3] Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

c) Heroin, cocain… có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam”

Cáo trạng số 07/CT-VKSCM ngày 09/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý về các chất ma tuý của nhà nước, là mối hiểm họa cho cộng đồng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương và phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên qua xác minh tại địa phương thì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức về hành vi của mình. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống không tu trí làm ăn, lại tiếp tục sa vào tệ nạn xã hội, biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Qua đó khẳng định bị cáo có nhân thân xấu, thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật, cần có mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là: "Người phạm tội thành khẩn khai báo". Ngày 14/12/2015 bị cáo chấp hành xong phần phạt tù của bản án số: 14/2014/HS-ST ngày 24/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo chưa chấp hành xong phần hình phạt bổ sung, vì vậy phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng đó là "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.

[6] Về vật chứng trong vụ án gồm: 01 phong bì kí hiệu D2 bên trong có chứa vỏ niêm phong và giấy gói cũ; 01 phong bì kí hiệu T119 bên trong có chứa 0,120 gam ma túy cùng phong bì, bao gói cũ, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, vì vậy Cơ quan điều tra chưa xác định được đối tượng để xem xét xử lý trong vụ án này, xét thấy là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS:

1. Tuyên bố: Bị cáo Âu Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Âu Đình D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ là 09 ngày (từ ngày 05/10/2018 đến 14/10/2018). Bị cáo còn phải chấp hành án tiếp 23 (Hai mươi ba) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì kí hiệu D2 bên trong có chứa vỏ niêm phong và giấy gói cũ; 01 phong bì kí hiệu T119 bên trong có chứa 0,120 gam ma túy cùng phong bì, bao gói cũ.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2019 giữa Cơ quan Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Âu Đình D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự:

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HS-ST ngày 07/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:08/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về