Bản án 09/2017/DS-PT ngày 06/12/2017 về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 09/2017/DS-PT NGÀY 06/12/2017 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 06 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2017/TLPT-TC ngày 02 tháng 11 năm 2017 về Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2017/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2017/QĐPT ngày 13 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc D. Địa chỉ: Tiểu khu x, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Ông Đỗ Văn B (tên gọi khác Đỗ Xuân B). Địa chỉ: Tiểu khu y, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 4 năm 2017 và trong quá trình giải quyết, xét xử sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc D trình bày:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 21/7/2016, anh D nghi ngờ ông Đỗ Văn B cắm đinh vít vào lốp xe ô tô của mình đang đỗ tại ngã tư đèn đỏ, thị trấn H, huyện M nên hai bên xảy ra xích míc lời qua tiếng lại. Trong lúc bức xúc, căng thẳng, không làm chủ được bản thân, anh D dùng tay phải tát một cái vào má trái của ông B rồi bỏ chạy. Ông B đuổi theo ôm, vật anh D ngã đập đầu xuống nền xi măng và đá liên tục vào vùng xương cột sống khiến anh D ngất đi.

Sau khi sự việc xảy ra, anh D được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La và tiếp tục điều trị, thăm khám tại Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết luận giám định pháp y về thương tích xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh D tại thời điểm giám định là 23%. Trong quá trình điều trị, ông B chỉ bồi thường cho anh D 5.000.000đ, không thăm nom và bồi thường thêm. Anh D xác định mình có lỗi khi chưa làm rõ sự việc đã nóng tính và đánh ông B nhưng việc ông B đuổi theo và tiếp tục đánh vào lưng và cột sống khi anh ngất đi là không phù hợp nên khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông B phải bồi thường các khoản sau:

- Chi phí điều trị là 25.150.000đ gồm chi phí nằm viện Đa khoa tỉnh Sơn La, chi phí thuốc men, chi phí thăm khám tại Hà Nội. Trong đó, chi phí thuốc thang, xét nghiệm, nằm viện ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La, Bệnh viện 103 và mua thiết bị phục hồi là 18.873.000đ, có hóa đơn kèm theo.

- Chi phí thu nhập bị mất là 6.000.000đ (200.000đ/ngày x 30 ngày).

- Chi phí bồi thường tổn hại sức khỏe 23% là 10.000.000đ.

Tổng cộng là 41.150.000đ, ông B đã bồi thường 5.000.000đ, yêu cầu ông B phải bồi thường tiếp là 36.150.000đ.

Ngày 10/7/2017, anh D bổ sung yêu cầu bồi thường tổn hại tinh thần là 20.000.000đ. Tổng số tiền ông B còn phải bồi thường là 56.150.000đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh D vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông B phải bồi thường số tiền 56.150.000đ.

Tại các bản tự khai và trong quá trình giải quyết, xét xử, bị đơn ông Đỗ Văn B trình bày:

Khoảng 01 giờ, ngày 21/7/2016, sau khi đi chở khách về, ông B ngồi uống nước ở quán nhà Y C tại ngã tư đèn đỏ, thị trấn H, huyện M. Do anh Nguyễn Ngọc D nghi ngờ ông B cắm đinh vít vào lốp xe ô tô nên đã có những lời lẽ xúc phạm, giữa hai bên xảy ra lời qua tiếng lại. Anh D đã đấm vào mang tai ông và bỏ chạy. Khi ông B đuổi theo thì anh D cúi xuống cầm viên gạch định ném nên ông B đã lao vào ôm và vật anh D ngã xuống đất. Ông B cho rằng mình ngã xuống trước nên đã đạp và đá để đẩy anh D ra. Sau khi thấy anh D không chống lại nữa ông B dừng lại và đi về nhà.

Ông B xác định việc đánh người gây thương tích là sai nhưng anh D là người đã gây sự, vu không, cố tình xúc phạm danh dự và định cầm gạch ném nên ông mới không kìm chế được dẫn đến làm anh D bị tổn thương sức khỏe là 23%. Sau khi sự việc xảy ra, ông B đã bị Công an xử lý hành chính, ông cũng đã bồi thường cho anh D 5.000.000đ tiền viện phí. Đối với yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, ông B chỉ chấp nhận bồi thường chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La là 5.000.000đ. Đối với chi phí phát sinh khi thăm khám ở các bệnh viện khác ông không chấp nhận vì gia đình anh D tự đi mà không thông báo cho ông. Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất và tổn hại sức khỏe, ông B không chấp nhận vì anh D đi làm lại sau 01 tuần và là người có lỗi dẫn đến xảy ra xô sát.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông B cho rằng anh D không bị tổn thương sức khỏe đến 23% nên đề nghị giám định lại, chỉ chấp nhận bồi thường những chi phí thực tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La từ ngày 21/7/2016 đến ngày ra viện ngày 01/8/2016.

Tại bản án sơ thẩm số: 20/2017/DSST ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La quyết định:

Áp dụng Điều 281, Điều 604 và Điều 605, Điều 606, Điều 609 của Bộ Luật Dân sự 2005; Điều 14 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của anh Nguyễn Ngọc D. Buộc ông Đỗ Văn B phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc D số tiền là 49.251.000VNĐ gồm chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc, tiền xe đưa đi chữa trị, thu nhập bị mất của người bị thiệt hại và người chăm sóc, tiền thiệt hại về sức khỏe và tổn thất về tinh thần, nhưng được trừ 5.000.000VNĐ (Năm triệu đồng) ông B đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp cho anh D là 44.251.000VNĐ (Bốn mươi bốn triệu, hai trăm năm mười mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày anh D có đơn yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành nếu ông B không tự nguyện trả số tiền trên thì hàng tháng ông B còn phải chịu một khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2017, bị đơn ông Đỗ Văn B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lỗi của các bên theo thực tế sự việc xảy ra; xác định mức bồi thường của các bên theo quy định tại các Điều 611, 613, 614 và 617 Bộ luật dân sự năm 2005; yêu cầu anh D phải bồi thường cho ông số tiền 19.800.000đ, gồm: Tiền tổn thất về tinh thần do bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm và uy tín là 10.000.000đ, bồi thường tiền thu nhập bị mất là 9.800.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến tranh luận của bị đơn ông Đỗ Văn B: Giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo, lỗi là do anh D gây ra nên chỉ chấp nhận số tiền đã bồi thường là 5.000.000đ, không chấp nhận bồi thường thêm các khoản nào khác.

Ý kiến của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc D: Không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên các khoản bồi thường theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu về quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn B, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lỗi của các bên theo thực tế sự việc xảy ra thấy rằng:

Tại kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M xác định: Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 21/7/2016, do nghi ngờ ông B cắm đinh vít vào lốp xe ô tô của anh D nên đã có lời lẽ vô văn hóa, thách thức và dùng tay đánh vào mặt ông B. Ông B đuổi theo, anh D nhặt 1/3 viên gạch mục đích để ném, ông B đã dùng tay, chân đánh gây hậu quả theo kết luận giám định pháp y về thương tích là 23%. Ông B thừa nhận được đánh anh D nhưng cho rằng thương tích không đến 23%. Tại cấp sơ thẩm ông yêu cầu giám định lại nhưng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh kết luận giám định về thương tích đối với anh D là không chính xác nên không có căn cứ để chấp nhận.

[2] Việc ông B gây thương tích cho anh D trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, do hành vi trái pháp luật của anh D gây nên. Tuy nhiên, do tỷ lệ thương tật của anh D là 23% nên Cơ quan điều tra Công an huyện M không khởi tố vụ án hình sự, xử phạt vi phạm hành chính đối với ông B là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự do các bên không thỏa thuận được mức bồi thường nên anh D khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị tổn thương là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005. Việc ông B cho rằng ông không có lỗi nên không chấp nhận bồi thường thiệt hại cho anh D theo quy định tại Điều 613 và Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2005 là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Về bồi thường thiệt hại: Đối với khoản chi phí điều trị theo hóa đơn khám bệnh và đơn thuốc thực tế là 17.311.000đ; chi phí mua sữa phục hồi cột sống là 600.000đ, mua đai thắt lưng là 1.000.000đ; chi phí thuê xe đi cấp cứu, khám chữa bệnh và tái khám tổng cộng 2.840.000đ; thu nhập thực tế bị mất của người  chăm  sóc  từ  ngày  21/7/2016  đến  ngày  01/8/2016  (mười  ngày)  là 1.500.000đ; thu nhập thực tế bị mất của anh D (trong thời gian nghỉ ngơi theo chỉ định của bác sĩ là 30 ngày) là 6.000.000đ. Xét đây là các khoản chi phí hợp lý, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các Điều 604, 605, 606, 609 Bộ luật dân sự năm 2005 và mục I, phần 1 mục II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chấp nhận là có căn cứ nên cần được giữ nguyên.

[4] Đối với yêu cầu đòi bồi thường phục hồi sức khỏe 10.000.000đ; bồi thường tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm 10.000.000đ. Xét nguyên nhân xảy ra là do lỗi của anh D đã có những lời lẽ vô văn hóa, thách thức và dùng tay đánh vào mặt ông B trước. Việc ông B gây thương tích cho anh D trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định anh D cũng có lỗi nhưng buộc ông B phải bồi thường toàn bộ đối với hai khoản này là không đúng quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự năm 2005 nên không chấp nhận đối với 02 yêu cầu này.

Từ sự phân tích nêu trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông B, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M, phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

[5] Đối với yêu cầu của ông B tại cấp phúc thẩm, buộc anh D phải bồi thường số tiền 19.800.000đ gồm các khoản: Bồi thường tổn thất về tinh thần do bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm và uy tín là 10.000.000đ; bồi thường thu nhập bị mất là 9.800.000đ, theo quy định tại Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2005. Xét yêu cầu của ông B tại cấp sơ thẩm không có yêu cầu phản tố, tại cấp phúc thẩm mới đưa ra nên không có cơ sở để chấp nhận.

[6] Về án phí: Do bản án bị sửa nên ông Đỗ Văn B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm sẽ được tính lại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đỗ Văn B, sửa một phần bản án sơ thẩm số: 20/2017/DSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La như sau:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của anh Nguyễn Ngọc D. Buộc ông Đỗ Văn B phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc D tổng số tiền là 29.251.000đ (hai mươi chín triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng) gồm các khoản: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc, được trừ vào số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) ông B đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp số tiền là 24.251.000đ (hai mươi tư triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày anh Nguyễn Ngọc D có đơn yêu cầu thi hành án, ông Đỗ Văn B không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015, tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ.

2. Về án phí: Ông Đỗ Văn B phải chịu 1.212.000đ, án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 04659 ngày 09/10/2017, được khấu trừ vào số tiền án phí dân sự phải nộp, còn phải nộp tiếp số tiền là 912.000đ (chín trăm mươi hai nghìn đồng), tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.


140
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về