Bản án  09/2018/HNGĐ-ST ngày 09/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 09/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2017/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tào Kim T, sinh năm 1992(Có mặt). Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh S.

- Bị đơn: Bà Lâm Thị Thu Q, sinh năm 1996(Vắng mặt). Địa chỉ: ấp Đ, xã Đại T, huyện M, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 24 tháng 10 năm 2017, tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay nguyên đơn ông Tào Kim T trình bày:

Ông và bà Lâm Thị Thu Q kết hôn năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bà Q bỏ nhà đi về nhà cha mẹ bà Q sống không chịu về sau đó thì cả gia đình bà Q đi đâu không liên lạc được.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà Q có được một đứa con chung tên Tào Kim Q1, sinh ngày 09/8/2013 hiện đang sống với ông Tào Kim T.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn Lâm Thị Thu Q : Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Q.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông T được ly hôn với bà Q. Về con chung: Giao cho ông Tào Kim T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Tào Kim Q1, sinh ngày 09/8/2013 đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng bà Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị đơn bà Lâm Thị Thu Q. Xét thấy, bà Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự  tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Lâm Thị Thu Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Tào Kim T và bà Lâm Thị Thu Q kết hôn năm 2012 có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ, huyện M, tỉnh S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 121/2014 ngày 14/7/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Tào Kim T và bà Lâm Thị Thu Q là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông Tào Kim T, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì ông T và bà Q sống hạnh phúc được đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và bà Q đã bỏ đi về nhà cha mẹ ruột bà sống và hiện nay thì cả gia đình cha mẹ bà Q cùng bà Q đi đâu không liên lạc được. Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian chung sống giữa ông T và bà Q có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và bà Q đã bỏ nhà đi từ tháng 01/2015 cho đến nay không rõ đi đâu. Tại quyết định số 03/2017/QDDS-ST ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã tuyên bố bà Lâm Thị Thu Q mất tích nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Tào Kim T.

[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Tào Kim T và bà Lâm Thị Thu Q có 01 người con chung tên Tào Kim Q1, sinh ngày 09/8/2013 hiện đang sống cùng ông T và ông T có nguyện vọng tiếp tục nuôi con không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, từ khi ông Tào Kim T và bà Lâm Thị Thu Q không còn chung sống cùng nhau đến nay cháu Tào Kim Q1 do ông Tào Kim T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng về mặt tình cảm cũng đã gắn bó với ông T. Mặt khác hiện nay không biết bà Q ở đâu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Tào Kim Q1, sinh ngày 09/8/2013 cho ông Tình tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp. Bà Lâm Thị Thu Q được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Ông Tào Kim T không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét

[6] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét. [7] Về nợ chung: Không có.

[8] Lời đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Tào Kim T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì  các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 2 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Tào Kim T được ly hôn với bà Lâm Thị Thu Q.

2. Về con chung: Giao cho ông Tào Kim T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Tào Kim Q1, sinh ngày 09/8/2013 đến trưởng thành; bà Lâm Thị Thu Q được quyền thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Thị Thu Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét;

5. Nợ chung: Không có.

6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Tào Kim T phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008810 ngày 08/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, ông T đã nộp xong.

Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án  09/2018/HNGĐ-ST ngày 09/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:09/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về