Bản án 09/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 09/2019/DS-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2018/TLST- DS ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP BĐLV (LVPB).

Địa chỉ trụ sở chính: Số 109 Trần HĐ, phường CN, quận HK, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng N- Giám đốc Ngân hàng TMCP BĐLV- chi nhánh Bạc Liêu.

Địa chỉ chi nhánh: Số 56 Trần P, Phường N, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Nguyễn Văn Đ, chuyên viên phòng khách hàng (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/4/2019). Có mặt.

2/ Bị đơn: Bà Lai Thị Thùy T, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp N, xã VL, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày như sau:

Ngày 31/10/2016 Ngân hàng TMCP BĐLV (LVPB) ký hợp đồng tín dụng số 889TC/2016/HĐTD/CNBacLieu thống nhất cho bà Lai Thị Thùy T vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), hình thức vay tín chấp, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, nợ gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 05, mức lãi suất cho vay (LScv): 03 tháng đầu 12 /năm, t tháng thứ 04 trở đi LScv được tính theo công thức: LSCV LSTiết kiệm thường kỳ hạn 13 tháng trả lãi cuối kỳ 4.75 /năm. Sau khi vay vốn, bà T thường xuyên trả trể hạn, đến ngày 17/11/2017 đã vi phạm hợp đồng, không trả nợ đúng hạn để phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lai Thị Thùy T phải trả cho Ngân hàng TMCP BĐLV số tiền nợ gốc và các khoản lãi tính từ ngày bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ (17/11/2017) đến ngày xét xử sơ thẩm (16/4/2019) là 114.248.760 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm sáu chục đồng, cụ thể: nợ gốc 102.499.910 đồng, nợ lãi chưa thanh toán 9.901.651 đồng, nợ lãi quá hạn 1.847.199 đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký cho đến khi bà T trả hết số nợ.

Bị đơn bà Lai Thị Thùy T vắng mặt, không có trình bày:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan trong vụ án cho bà T do mẹ ruột tên Lê Thị H, sống chung hộ gia đình đồng ý nhận thay và bà H th a nhận có giao lại các văn bản của Tòa án cho bà T (theo biên bản xác minh ngày 21/3/2019) nhưng bà T không tham gia đúng thời gian Tòa án triệu tập, cũng không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu việc kiểm sát và quan điểm giải quyết như sau:

- Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ; Về việc tuân thủ pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự;

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; Đối với bị đơn bà Lai Thị Thùy T đã được Tòa án thông báo về nội dung vụ án, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng các lần triệu tập bà T không tham dự cũng không có lời trình bày nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bà T. T những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Lai Thị Thùy T trả số tiền nợ gốc và các khoản lãi theo yêu cầu của nguyên đơn là 114.248.760 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm sáu chục đồng, cụ thể: nợ gốc 102.499.910 đồng, nợ lãi chưa thanh toán 9.901.651 đồng, nợ lãi quá hạn 1.847.199 đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký cho đến khi bà T trả hết số nợ; Về án phí buộc bà T phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền vốn vay và lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tính từ ngày vi phạm cho đến ngày xét xử sơ thẩm và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến ngày trả hết số nợ. Tòa án đã thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn bà Lai Thị Thùy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định giải quyết vắng mặt đối với bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Ngày 31/10/2016, Ngân hàng TMCP BĐLV (LVPB) ký Hợp đồng tín dụng số 889TC/2016/HĐTD/CNBacLieu thống nhất cho bà Lai Thị Thùy T vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp, thời hạn vay 60 tháng, nợ gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 05, mức lãi suất cho vay (LScv): 03 tháng đầu 12 /năm, t tháng thứ 04 trở đi LScv được tính theo công thức: LSCV LSTiết kiệm thường kỳ hạn 13 tháng trả lãi cuối kỳ 4.75 /năm. Ngày 17/11/2017 bà T đã vi phạm hợp đồng, không trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và các khoản lãi tính từ ngày bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ (17/11/2017) đến ngày xét xử sơ thẩm (16/4/2019) là 114.248.760 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm sáu chục đồng, cụ thể: nợ gốc 102.499.910 đồng, nợ lãi chưa thanh toán 9.901.651 đồng, nợ lãi quá hạn 1.847.199 đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký cho đến khi bà Ttrả hết số nợ; Bị đơn bà Lai Thị Thùy T vắng mặt không có lời trình bày về khoản vốn vay và lãi suất.

[3] Xét hợp đồng tín dụng số 889TC/2016/HĐTD/CNBacLieu, ngày 31/10/2016 là hợp đồng tín dụng có thời hạn và có lãi, việc ký kết hợp đồng giữa các bên được lập bằng văn bản, hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định pháp luật khi giao kết hợp đồng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng, trên cơ sở về việc thỏa thuận đó thì việc Ngân hàng cho bà T vay vốn là hợp pháp. Sau khi thực hiện hợp đồng bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 16/4/2019 thì hợp đồng đã quá hạn trả nợ gốc và lãi theo kỳ, mặc dù chưa đến thời hạn trả toàn bộ nợ gốc nhưng bị đơn đã vi phạm hợp đồng theo quy định tại Điều 7 và Điều 10 của hợp đồng tín dụng thì “ Bên cho vay được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước hạn khi bên vay vi phạm các cam kết trong hợp đồng” và được bị đơn bà Lai Thị Thùy T đồng ý ký tên vào hợp đồng vay vốn nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về lãi suất cho vay: Căn cứ vào khoản 2.2 Điều 2 của các hợp đồng tín dụng số 889TC/2016/HĐTD/CNBacLieu ngày 30/10/2016 thì hai bên thống nhất thỏa thuận lãi suất là 12 năm và lãi suất được điều chỉnh theo định kỳ, đồng thời tại khoản 5.3 Điều 5 của hợp đồng quy định trường hợp bên vay không trả hoặc trả không đủ nợ gốc hoặc lãi đúng hạn thì phải thanh toán cho bên cho vay số tiền chậm trả lãi bằng 150 mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi, việc thỏa thuận lãi là phù hợp quy định của pháp luật.

Như vậy, từ ngày xác lập hợp đồng 31/10/2016 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 16/4/2019 là 29 tháng 16 ngày, bị đơn bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 17/11/2017 thì bà T chỉ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng được 19 kỳ, với số tiền vốn và lãi như Ngân hàng đã trình bày là 72.955.801 đồng (trong đó, nợ gốc là 47.500.000 đồng (mỗi kỳ trả 2.500.000 đồng); nợ lãi là 25.455.801 đồng)), sau ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho đến nay là 17 tháng, bà T đã không thanh toán cho Ngân hàng nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP BĐLV yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi quá hạn và lãi phát sinh do chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết là phù hợp theo quy định pháp luật.

[5] T những phân tích nêu trên có đủ căn cứ để xác định yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ vào đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa cũng như những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP BĐLV, buộc bị đơn bà Lai Thị Thùy T có nghĩa vụ trả cho Ngân Hàng số tiền vốn và lãi cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 114.248.760 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm sáu chục đồng, cụ thể: nợ gốc 102.499.910 đồng, nợ lãi chưa thanh toán 9.901.651 đồng, nợ lãi quá hạn 1.847.199 đồng) và tiền lãi suất phát sinh của số tiền vốn gốc còn nợ theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày bị đơn trả hết số nợ.

[6] Về tiền án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Lai Thị Thùy T có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Do đó, bị đơn phải chịu 5 án phí trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn 114.248.760 đồng x 5 = 5.712.438 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Áp dụng các Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2, Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP BĐLV (LVPB).

Buộc bị đơn bà Lai Thị Thùy T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền là 114.248.760 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm sáu chục đồng, cụ thể: nợ gốc 102.499.910 đồng, nợ lãi chưa thanh toán 9.901.651 đồng, nợ lãi quá hạn 1.847.199 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn bà Lai Thị Thùy T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo t ng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: 5.712.438 đồng (Năm triệu, bảy trăm mười hai nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng). Buộc bà Lai Thị Thùy T phải chịu.

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP BĐLVsố tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.649.400 đồng (Hai triệu sáu trăm bốn chín nghìn bốn trăm đồng) theo lai thu số 0003404 ngày 14/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị.

Án dân sự sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:09/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về