Bản án 09/2019/DS-ST ngày 24/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ - TP.CẦN THƠ

BẢN ÁN 09/2019/DS-ST NGÀY 24/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 260/2018/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2019/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* NGUYÊN ĐƠN: Công Ty Tài Chính Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Ngân hàng Việt Nam TV.

Trụ sở: Đường Đoàn Văn Bơ, Phường 12, Quận 4, TP. HCM.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh Th, sinh năm 1995.

Địa chỉ: 557/24 đường Trần Quang Diệu, phường An Thới, quận BT, thành phố CT. (Theo văn bản ủy quyền số 1105/UQTA-VH.18 ngày 02/10/2018).

*BỊ ĐƠN: Bà Trần Thị Nguyệt Ng, sinh năm 1978.

Đa chỉ: Khu vực Bình Chánh, phường LH, quận BT, thành phố CT.

Đi diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Đại diện nguyên đơn là bà Nguyễn Minh Th trình bày:

Ngày 02/10/2015 bà Trần Thị Nguyệt Ng có ký hợp đồng tín dụng số 20151002-102027-0004 với Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV vay số tiền 50.107.901 đồng, lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng bà Ng có trách nhiệm thanh toán số tiền 92.000.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.560.000 đồng, tháng cuối trả 2.490.000 đồng, bắt đầu trả từ 06/11/2015.

Thc hiện hợp đồng bà Ng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV 10 lần với tổng số tiền 20.832.000 đồng. Kể từ ngày 21/12/2018 đến nay bà Ng không thanh toán cho Công ty tài chính dù đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay, yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Nguyệt Ng trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV số tiền 62.258.000 đồng (gồm nợ gốc 32.870.177 đồng và nợ lãi 29.387.823 đồng) và tiếp tục trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất 3,75%/tháng nếu bà Ng chậm trả trong giai đoạn thi hành án.

Về phía bị đơn bà Trần Thị Nguyệt Ng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà Ng vắng mặt. Theo xác nhận của công an phường Long Hòa thì bà Trần Thị Nguyệt Ng, sinh năm 1978 hiện đang sinh sống tại địa chỉ khu vực Bình Chánh, phường LH, quận BT, thành phố CT. Do đó, Tòa án đã niêm yết và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo xét xử vắng mặt, giấy triệu tập cho bà Ng theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện nguyên đơn bà Th yêu cầu bị đơn bà Ng trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 24/4/2019 là 56.258.000 đồng (bao gồm tiền vốn theo hợp đồng tín dụng là 26.870.177 đồng, tiền lãi 29.387.823 đồng) và tiếp tục trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất 3,75%/tháng nếu bà Ng chậm trả trong giai đoạn thi hành án.

Phía bị đơn bà Trần Thị Nguyệt Ng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Bà Trần Thị Nguyệt Ng có ký hợp đồng tín dụng với Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV theo hợp đồng tín dụng số 20151002-102027-0004 để vay số tiền 50.107.901 đồng, lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân, do bà Ng không thực hiện đúng cam kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Ng phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 24/4/2019 là 56.258.000 đồng là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân với ngân hàng được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy đinh tai khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hi đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng tín dụng số 20151002-102027-0004 đã ký giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV và bà Trần Thị Nguyệt Ng. Theo hợp đồng tín dụng bà Ng vay số tiền 50.107.901 đồng, lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng bà Ng có trách nhiệm thanh toán số tiền 92.000.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.560.000 đồng, tháng cuối trả 2.490.000 đồng, bắt đầu trả từ 06/11/2015.Thực hiện hợp đồng bà Ng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV 13 lần với tổng số tiền 35.832.000 đồng. Kể từ ngày 11/4/2019 đến nay bà Ng không thanh toán cho Công ty tài chính theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền vốn và lãi là 56.258.000 đồng (bao gồm tiền vốn theo hợp đồng tín dụng là 26.870.177 đồng, tiền lãi 29.387.823 đồng) và tiếp tục trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất 3,75%/tháng nếu bà Ng chậm trả trong giai đoạn thi hành án.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở. Do đó cần buộc bị đơn trả số tiền 56.258.000 đồng cho nguyên đơn. Trong giai đoạn thi hành án nếu bị đơn chậm trả tiền cho nguyên đơn thì bị đơn còn phải chịu lãi chậm trả 3,75%/tháng tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị Nguyệt Ng có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam TV tính đến ngày 24/4/2019 tổng số tiền là 56.258.000 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi tám ngàn đồng).

(Bao gồm tiền vốn theo hợp đồng tín dụng là 26.870.177 đồng, tiền lãi 29.387.823 đồng).

Phương thức thanh toán nợ giữa các bên do cơ quan thi hành án giải quyết theo thẩm quyền.

Kể từ khi bản án có hiệu lực và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chưa thanh toán số tiền trên thì bị đơn còn phải chịu lãi suất 3,75%/tháng tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Trần Thị Nguyệt Ng phải nộp 2.812.000 đông (Hai triệu tám trăm mười hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được nhận lại số tiền 1.606.450 đồng (Một triệu sáu trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm năm mươi đồng) đã nộp tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 009567 ngày 17/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận BT, thành phố CT.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố CT xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


23
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về