Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về không công nhận vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 209/2018/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2018 về tranh chấp “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm: 1968. Có mặt.

Trú tại: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông.

Bị đơn: Chị Trần Thị Bông, sinh năm: 1974. Có mặt.

Trú tại: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 10 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Minh H trình bày: Tôi và chị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 và không có đăng ký kết hôn do chúng tôi thiếu am hiểu về pháp luật. Lý do tôi làm đơn đề nghị không công nhận là vợ chồng với chị B là do vấn đề tài chính và tôi đang nuôi con của vợ trước, chị B không cho tôi chu cấp cho các cháu, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, cuộc sống chung không hanhphúc, nên tôi lam đơn này yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng giữa tôi và chị B.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 30/11/2003. Tôi và chị B tự thỏa thuận với nhau về việc nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trần Thị B trình bày: Chị B thừa nhận lời trình bày của anh H về việc anh chị sống chung như vợ chồng và vấn đề con chung và mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Chị B xác định không còn tình cảm với anh H và không thể tiếp tục chung sống với anh H nữa nên chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện không công nhận vợ chồng của anh H.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 30/11/2003. Tôi và anh H tự thỏa thuận với nhau về việc nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện VKSND huyện Đăk Song đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu không công nhận anh H và chị B là vợ chồng.

Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án: bản sao giấy khai sinh của con; 01 sổ hộ khẩu, 02 giấy chứng minh nhân dân của anh H, chị B (bản chứng thực) đây là tình tiết, sự kiện các bên đương sự đã thống nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh H khởi kiện chị Trần Thị B về tranh chấp “Không công nhận là vợ chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Đăk Song theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh H và chị Trần Thị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003, tuy đủ điều kiện để kết hôn nhưng anh H và chị B không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh H và chị B không hạnh phúc do mâu thuẫn giữa việc nuôi con chung và con riêng và do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Tình cảm dành cho nhau không còn, do đó anh H và chị B đều thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của anh H và chị B không hợp pháp. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu không công nhận là vợ chồng giữa anh H và chị B.

[3] Về con chung và tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Anh H phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 218; Điều 219; Điều 143; Điều 147; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 11; Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Luật Hôn gia đình năm 2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh Nguyễn Minh H và chị Trần Thị B là vợ chồng.

2. Về con chung và tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Nguyễn Minh H phải chịu toàn bộ số tiền trên, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh H đã nộp theo biên lai số 0004867, ngày 11 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về không công nhận vợ chồng

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về