Bản án 100/2017/DS-ST ngày 21/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 100/2017/DS-ST NGÀY 21/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 21 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2017/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:112/2017/QĐST-DS ngày 05  tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T; trụ sở: Phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều A, sinh năm 1995; trú tại: Khu phố T, phường P, thị xã A, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 14/7/2017), có mặt

Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1980; trú tại: Khu phố B, phường C, thị xã A, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02/6/2017, nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 12/8/2014, ông Đỗ Văn H có ký giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh vay số tiền 42.000.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 4,59%/tháng, với phương thức cho vay trả góp mỗi tháng, thời hạn vay tính từ ngày 19/9/2014, thỏa thuận trả gốc và lãi suất mỗi tháng là 3.478.767 đồng, bị đơn không thế chấp tài sản gì. Ngân hàng

Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đã giao tiền mặt cho ông H số tiền vay nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông H đã trả 32.309.835 đồng. Kể từ ngày 21/12/2016, ông H không thanh toán như đã cam kết.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền 30.307.958 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là:

- Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 12/8/2014.

- Thông tin bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 12/8/2014, nội dung và quá trình thực hiện, thời gian ngừng trả nợ và số tiền nợ. Ông H xác định hiện nay còn nợ nguyên đơn số tiền là 30.307.958 đồng. Do hiện nay bị đơn khó khăn về kinh tế nên yêu cầu được trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên Tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu áp dụng mức lãi suất chậm thi hành án đối với bị đơn theo mức lãi suất quy định của Bộ luật dân sự. Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm

Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo Khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng với hình thức cho vay và việc cho vay phải lập hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 17 Quyết định 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời trình bày của các đương sự xác định khi Ngân hàng Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Đỗ Văn H vay vốn không lập hợp đồng tín dụng nhưng về phía ông H và Ngân hàng Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 12/8/2014 có chứa đựng nội dung thỏa thuận như một hợp đồng tín dụng nên xem như đã xác lập hợp đồng tín dụng. Do vậy, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Việc Ngân hàng Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh cho bị đơn vay vốn để tiêu dùng và bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Thuận An nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An giải quyết được quy định tại Khoản 3 Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã ký kết và sự thừa nhận của bị đơn, Hội đồng xét xử xác định vào ngày 12/8/2014 Ngân hàng Thương mại cổ phần T – chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho bị đơn số tiền 42.000.000 đồng tiền mặt với hình thức cho vay.

Về lãi suất: Theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 3 Điều 4 Thông tư 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế và Điều 11 Quyết định số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng có quy định giữa tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận mức lãi suất. Ngân hàng và bị đơn đã thỏa thuận bằng văn bản mức lãi suất 4,59%/tháng đối với hợp đồng vay nêu trên và quá trình thực thực hiện hợp đồng hai bên vẫn áp dụng mức lãi suất này là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Với mức lãi suất nêu trên, hai bên cùng thỏa thuận hình thức trả số tiền vay trên là trả góp mỗi tháng với số tiền 3.478.767 đồng, trả trong vòng 18 tháng cho đến khi hết nợ. Như vậy, tổng số tiền bị đơn phải trả cho Ngân hàng là 62.617.806 đồng. Bị đơn đã trả cho Ngân hàng số tiền 32.309.835 đồng, từ tháng 12/2016 cho đến nay bị đơn không thực hiện việc trả nợ và số tiền hiện nay bị đơn còn nợ Ngân hàng là 30.307.958 đồng là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo Điều 7 của hợp đồng. Theo Khoản 6.2 Điều 6 của hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt hợp đồng trước hạn với bị đơn khi bị đơn vi phạm bất kỳ quy định nào của hợp đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ nêu trên nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 30.307.958 đồng còn nợ lại là có cơ sở chấp nhận.

Về lãi suất chậm thi hành án: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất chậm thi hành án đối với bị đơn theo mức lãi suất quy định của Bộ luật dân sự, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

 [3] Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 471, 474 và Điều 476  Bộ luật dân sự 2005 ; Khoản 2 Điều 91; Điều 98  Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 ; Khoản 3 Điều 4 Thông tư 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế và Điều 11 Quyết định số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng có quy định giữa tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận mức lãi suất; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần T đối với ông Đỗ Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

- Buộc ông Đỗ Văn H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần T số tiền 30.307.958 đồng (ba mươi triệu ba trăm lẻ bảy nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đỗ Văn H chịu 1.515.398 đồng (một triệu năm trăm mười lăm nghìn ba trăm chín mươi tám đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần T toàn bộ số tiền 757.699 đồng (bảy trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015501 ngày 29/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về