Bản án 101/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 101/2017/HNGĐ-ST NGÀY 26/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 26 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2017/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim Ng, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp LT, xã LN, huyện DMC, tỉnh Tây Ninh (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp 5, xã BĐ, huyện GD (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án của chị Ng trình bày:

Chị và anh Ph tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào tháng 10 năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BĐ, huyện GD; sau khi cưới về sống chung bên chồng đi làm công nhân khu công nghiệp PĐ - BL, còn anh Ph làm công nhân cơ sở sản xuất Bánh Tráng; con chung không có; tài sản chung: không có, vợ chồng không thiếu nợ ai. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay; nguyên nhân do anh Ph nghe lời cha, mẹ chồng nên chị bỏ về sống với cha, mẹ ruột đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn; về con chung: không có; tài sản chung: không có; về nợ chung không thiếu ai nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Văn Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Ph vắng mặt không rõ lý do nên không thể hiện yêu cầu.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi nghị án, thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và chị Ng thực hiện đúng theo trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Riêng anh Ph không đến Tòa án để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập là vi phạm, đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành đưa vụ án ra xét xử là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: chị Ng và anh Ph tự nguyện chung sống với nhau vào cuối năm 2014 có đăng ký kết hôn; quá trình chung sống không có con chung, tài sản chung, không thiếu nợ ai; vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2014 ly thân cho đến nay, nguyên nhân do anh Ph nghe lời cha, mẹ; từ khi ly thân đến nay mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai; xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cho chị Ng và anh Ph ly hôn.

Về con chung: không có; tài sản chung và nợ chung chị Ng không yêu cầu đề nghị không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh Nguyễn Văn Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: chị Ng và anh Ph tự nguyện chung sống với nhau vào tháng 10 năm 2014, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật thừa nhận hôn nhân hợp pháp; sau khi cưới chị Ng về sống chung bên chồng đi làm công nhân, còn anh Ph làm thuê; vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2014 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Ph nghe lời cha, mẹ ruột nên chị Ng bỏ về nhà cha, mẹ sống; từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, không có thiện chí hàn gắn. Như vậy có căn cứ cho rằng  mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Ng và anh Ph lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Ng và anh Ph ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Ng không yêu cầu giải quyết.

[5] Vê an phi: chị Huỳnh Thị Kim Ng phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo qui đinh tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56  Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Kim Ng được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ph.

2. Về con chung: không có không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: chị Huỳnh Thị Kim Ng phải chịu 300.000 đông án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí do chị Ng đã nộp 300.000 theo biên lai thu số 0012555 ngày 06 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GD (chị Ng đã nộp xong)

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. /.

6. Trong han 15 ngày kể từ ngày tuyên án , các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng anh Ph vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


204
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:101/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Dầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về