Bản án 10/2017/DS-PT ngày 29/09/2017 về chia di sản thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 10/2017/DS-PT NGÀY 29/09/2017 VỀ CHIA DI SẢN THỪA KẾ

Ngày 29/9/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2017/TLPT - DS ngày 07/8/2017 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DSST ngày 30/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2017/QĐPT-TC ngày 01/9/2017 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1935;

Địa chỉ: Thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam.(có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Nhàn - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam. (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam. (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê Thị V, sinh năm 1962. (có mặt).

Địa chỉ: Xóm A, thôn HD, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam.

- Anh Vũ Văn H, sinh năm 1966. (có mặt).

- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1989. (vắng mặt).

Đều ở địa chỉ: thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam.

4. Người kháng cáo: Chị Lê Thị M là bị đơn và anh Vũ Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Lê Văn L trinh bay: Ông va ba Nguyên Thị L có tổ chưc đam cươi vao năm 1953, sinh đươc 02 ngươi con la chị Lê Thị V va Lê Thị M. Năm 2012 ba L chêt không để lai di chuc. Tai san cua vơ chông la thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục số 17, diện tích 183m2 thuộc thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Ha Nam; nguôn gốc thửa đất la do bố mẹ đẻ ông để lai cho vơ chông ông. Ban đô năm 1985 thửa đất mang tên ông, sau đó ông đi công tac không có măt tai địa phương nên ba L la ngươi đưng tên kê khai, năm 2008 UBND huyên DT cấp GCNQSDĐ mang tên ba L. Sau khi ba L chêt chị M va chông la anh H quan ly sử dung. Nay ông khơi kiên yêu câu Toa an giai quyêt cho ông đươc nhân lai 1/2 diên tich đất vi đây la tai san chung cua ông va ba L, con 1/2 diên tich la phân cua ba L đề nghị chia thưa kê theo phap luât. Ông thưa nhân viêc chăm sóc ba L khi con sống va lo ma chay cho ba la do vơ chông chị M lo liêu. Ông không nhất tri vơi số nơ chị M kê khai tra nơ thay cho ba L; viêc bôi đăp thêm vao thửa đất cung như số tiền lo ma chay cho ba L theo như chị M kê khai vi vơ chông chị M tự thu chi quyêt toan tiền phung viêng đam tang cua ba L.

Bị đơn chị Lê Thị M trinh bay: Chị không nhất tri vơi yêu câu khơi kiên cua ông L vi ông L đã ơ vơi ngươi phu nữ khac (có 02 ngươi con trai) không quan tâm đên vơ con. Thửa đất nay ba L đã tra cho ông L 01 cây vang để đưng tên môt minh ba L. Khi con sống ba L đã nói băng miêng cho vơ chông chị vi vơ chông chị có trach nhiêm tra toan bô số nơ ba L nơ cua HTX va vay cua ca nhân gôm: Vay cua ba Th khoang năm 1990 quy ra vang la 03 chỉ; nơ cua ba K gao va tiền quy ra vang la 04 chỉ; nơ ba C tiền măt 10 triêu đông quy ra vang la 1,3 cây; nơ ông D 6.800.000đ quy ra 09 chỉ vang; năm 1985 ba L ban diên tich đất nay cho anh Ch 1.200.000đ, anh Ch đăt coc 700.000đ, chị không đông y ban nên đã tra anh Ch 700.000đ. Nơ tâp thể chị không nhơ cu thể nhưng chị đã nôp cho Toa an sổ khoan hô va tiền thuê đất; mua đất san lấp thêm khoang 16.000.000đ; tiền thuốc men chăm sóc ba năm cuối đơi cho ba L la 30 triêu đông; chi phi mai tang 37.500.000đ. Ngoai ra chị M con cho răng trong diên tich đất tranh chấp trên có ca đất phân trăm cua gia đinh chị trong đó.

Ngươi có quyền va nghia vu liên quan anh Vu Văn H va chau Vu Thị H có quan điểm như y kiên cua chị M.

Theo kêt qua định gia thi gia trị thửa đất la 76.860.000đ; tai san trên đất la 44.033.000đ.

Từ những nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên quyết định:

Áp dụng khoản 2, 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 623, 649, 651 và 658 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện vụ án tranh chấp thừa kế và đòi lại tài sản của ông Lê Văn L đối với chị Lê Thị M.

2. Xác định diện tích 183m2  tại thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L là tài sản chung của ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị L. Theo đó, ông Lê Văn L có 91,5m2, bà Nguyễn Thị L có 91,5m2.

3. Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L là 91,5m2  trong thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L, trị giá: (91,5m2 x 420.000đ/m2) = 38.430.000đ - 9.066.000đ (tiền mai táng phí, thuế và bảo quản di sản) = 29.364.000đ : 3 kỷ phần = 9.788.000đ. Theo đó, ông L, chị V và chị M mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế là 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng).

4. Giao toàn bộ diện tích đất 183m2 và tài sản trên đất (có giá trị 44.033.000đ) tại thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L cho ông Lê Văn L sử dụng.

5. Ông Lê Văn L có trách nhiệm thanh toán giá trị đất và tài sản trên đất như sau:

- Thanh toán cho chị Lê Thị V: 01 kỷ phần thừa kế tài sản trị giá: 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng);

- Thanh toán cho chị Lê Thị M: 01 kỷ phần thừa kế tài sản trị giá: 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng);

- Thanh toán cho anh Vũ Văn H và chị Lê Thị M số tiền giá trị tài sản trên đất là: 44.033.000đ (Bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba nghìn đồng).

- Thanh toán cho chị Lê Thị M, anh Vũ Văn H khoản tiền mai táng phí, thuế và bảo quản di sản là 9.066.000đ (Chín triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

6. Bác các yêu cầu khác của đương sự.

7. Án phí và chi phí tố tụng khác:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông L phải chịu: 200.000đ án phí đòi lại tài sản không có giá ngạch và 489.400đ án phí chia tài sản thừa kế. Đối trừ với số tiền 2.000.000đ tạm ứng án phí ông L đã nộp ngày 20/7/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông L được nhận lại số tiền 1.310.600đ (Một triệu ba trăm mươi nghìn sáu trăm đồng).

+ Chị Lê Thị M phải chịu số tiền 489.400đ (Bốn trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm đồng);

+ Chị Lê Thị V phải chịu số tiền 489.400đ (Bốn trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm đồng).

- Chi phí định giá tài sản: Ông Lê Văn L phải chịu 667.000đ. Chị Lê Thị V và chị Lê Thị M mỗi người phải chịu số tiền 667.000đ. Đối trừ với số tiền ông L đã nộp tạm ứng để chi cho việc định giá tài sản là 2.000.000đ. Nay ông L được nhận lại từ chị Lê Thị V, chị Lê Thị M mỗi người là 667.000đ (Sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).

Ngày 13 tháng 7 năm 2017 chị Lê Thị M là bị đơn và anh Vũ Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án.

Ngày 14/7/2017 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên kháng nghị bản án về phần xác định quan hệ dân sự, án phí và chi phí định giá tài sản. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 04/2017/DSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Chị Lê Thị M và anh Vũ Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên yêu cầu kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm về xác định lại quan hệ pháp luật là: Tranh chấp về thừa kế tài sản; tính án phí có giá ngạch đối với ½ mảnh đất mà ông L được nhận trong khối tài sản chung; chia lại nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản cho các đương sự; khoản tiền tôn tạo đất từ 5 đến 7 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án. Tòa án nhận định:

[1] Xet khang cao cua chị Lê Thị M va anh Vu Văn H thấy răng:

Về nguồn gốc thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục số 17, diện tích 183m 2 thuộc thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam là của bố mẹ ông L để lại cho vợ chồng ông L và bà L sau khi lấy nhau để sinh sống. Do đó thửa đất số 19, năm 1985 thửa đất mang tên ông L, sau đó ông đi công tac không có măt tai địa phương nên ba L la ngươi đưng tên kê khai, năm 2008 UBND huyên DT cấp GCNQSDĐ mang tên ba L. Sau khi ba L chêt chị M va chông la anh H quan ly sử dung. Chị cho răng năm 1989 mẹ chị đã tra cho ông L 01 cây vang để đưng tên môt minh trên thửa đất nay, nên đây la tai san riêng cua mẹ chị. Song chị không đưa ra được các chứng cứ nào để chứng minh cho việc ông L đã bán cho mẹ chị để lấy 1 cây vàng. Trong khi đó ông L và chị V xác định là không có, măt khac theo chị M khai thơi điểm nay ba L rất khó khăn, phai vay nơ nhiều nơi như vay tiền măt cua ba Th năm 1990, nơ ba C tiền vay tư năm 1984-1987… Vi vây, yêu câu khang cao cua chị M không có cơ sơ để Toa an xac định đây là tài sản riêng của bà L mà là tài sản chung của ông L và bà L.

hị M khang cao cho răng: Thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục số 17, diện tích 183m2  thuộc thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam hiên ba L đã cho vơ chông chị nên không nhất tri chia. Chị va anh H đều xac định khi ba L cho đất vơ chông không có giấy tơ tăng cho ma chỉ nói cho băng miêng, không có ngươi lam chưng công nhân, đên nay giấy tơ thửa đất vẫn mang tên ba L chưa chuyển tên cho vơ chông chị. Măt khac thửa đất nay la tai san chung cua ông L và bà L nên bà L không có quyền cho toàn bộ thửa đất. Do đó, việc chị và anh H kháng cáo về việc bà L tặng cho vợ chồng chị thửa đất là chưa đủ cơ sở pháp luật nên không được chấp nhận.

Về công nơ: Chị M va anh H xac định trong qua trinh mẹ chị la ba L con sống vợ chồng chị đã trả nợ hộ cho bà L những khoản sau: Trả cho anh Ch 700.000đ tiền đăt coc ban đất năm 1985; vay cua ba Th ơ Yên Tư quy ra vang 3 chỉ vàng năm 1990; nơ cua ba K gao va tiền quy ra vang la 04 chỉ; nơ ba C tiền măt 10 triêu đông quy ra vang la 1,3 cây; nơ ông D 6.800.000đ quy ra 09 chỉ vang; Nơ tâp thể chị không nhơ cu thể nhưng chị đã nôp cho Toa an sổ khoan hô va tiền thuê đất. Song tai phiên toa hôm nay anh H va chị M không xuất trinh được các tài liệu, chứng cứ nào mới so với phiên tòa xét xử sơ thẩm. Mặt khác đến nay môt số ngươi chị M khai cho ba L vay tiền không con sống, va ngươi lam chưng thi lai xac nhân không rõ số tiền vay, thơi điểm tra nơ; chị M la ngươi trực tiêp mang tiền đên tra nhưng nguôn tiền la cua vơ chông anh chị hay cua ba L thi không đươc chưng minh cu thể. Viêc vay nơ chu yêu diên ra tư năm 1985-1991 muc đich vay la để chi phi sinh hoat trong gia đinh trong đó có ca gia đinh anh H, chị M. Vi vây đây la nghia vu chung chư không phai công nơ riêng cua ba L. Đối vơi công nơ tâp thể, chị M xuất trinh môt sổ khoan hô trong đó có thể hiên viêc thanh toan vơi HTX khoang tư năm 1995 đên năm 1997, nhưng sổ nay mang tên chu hô nhân khoan la chị Lê Thị M va cung không thể xac định số nơ riêng cua ba L la bao nhiêu. Như vây, toan bô số nơ chị M kê khai gia sử la có thât nhưng chị M không chưng minh đươc ba L vay nơ để phuc vu muc đich ca nhân riêng cua ba L va nguôn tiền chị mang đi tra cho những ngươi cho vay la cua ba L hay la tiền riêng cua vơ chông chị đều không chưng minh đươc vi ba L đã chêt không có ngươi để đối chưng, ngoai ra thơi điểm đó gia đinh chị chung sống sinh hoat cung ba L, ba L vẫn khoe manh lao đông đươc không phu thuôc vao vơ chông chị. Do đó yêu câu khang cao cua chị M va anh H không được chấp nhận.

Về công sưc tôn tao anh H chị M cho răng vơ chông đã mua đất đổ thêm vao diên tich đất đang tranh chấp la có thât, điều nay cung đươc chị V thưa nhân tại phiên tòa. Tuy nhiên việc anh chị khai về số lượng đất tôn tạo cũng như số tiền hêt 16.000.000đ la chưa có căn cư. Toa an cấp sơ thâm đã buôc ông L phai thanh toan cho anh chị những tai san trên đất la 43.033.000đ trong đó không có tiền công vượt lập, san lấp của anh H, chị M là chưa đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng anh chị. Do đó Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu tính tiền mua đất san lấp thêm của anh H, chị M là 6.000.000đ.

Viêc vơ chông chị M chăm sóc ba L luc sống, lo viêc tang lê cho ba luc chêt ngoai những khoan chi phi hơp ly đươc phap luât công nhân ma Toa an cấp sơ thâm đã tinh toan cho anh chị la 6.000.000đ va 3.000.000đ tiền quan ly, trông nom di san cua ngươi chêt để lai la phu hơp. Đối vơi môt số khoan chi phi khac cho đam tang theo phong tuc địa phương nhưng đây la viêc lam tự nguyên để bao hiêu cho ba L, toan bô tiền phung viêng anh chị đã tự thu, chi không kê khai va tai thơi điểm đó anh chị cung không yêu câu ông L hay chị V phai đóng góp nên không thể trich trong phân di san cua ba L để tra những khoan chi phi ngoai quy định cua phap luât. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của anh H, chị M.

[2]. Xet khang nghị cua VKSND huyên Duy Tiên thấy răng:

- Về xac định quan hê tranh chấp: Diện tích 183 m2 đất, tại thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục số 17 thuộc thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam, hiện đang do chị Lê Thị M, quản lý, sử dụng là khối tài sản chung của ông L, bà L và là di sản thừa kế của ông L, chị M, chị V. Vì vậy, chị M có quyền quản lý di sản của bà L đã chết và căn cứ vào khoản 2 điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”.

- Về ap dung phap luât để tinh an phi: Theo khoan 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thi những vụ việc đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hoặc theo thủ tục phúc thẩm trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 nhưng sau ngày 01 tháng 01 năm 2017 Tòa án mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm thì các quyết định về án phí, lệ phí Tòa án được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Theo đó, vu an nay Toa an nhân dân huyên Duy Tiên thu ly ngay 20/7/2016 va ngay 30/6/2017 mơi xet xử. Vi vây Toa an phai ap dung Phap lênh an phi, lê phi Toa an ngay 27/02/2009 cua UBTVQH để tinh an phi nhưng Ban an cua Toa an nhân dân huyện Duy Tiên không áp dụng quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 mà áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH để tính án phí là không đung quy định cua phap luât.

Về nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản: Theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 6 điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí thẩm định, định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Trong vụ án này khối tài sản được định giá gồm: Đất trị giá 76.860.000đ; Tài sản trên đất trị giá 44.033.000đ; tài sản là đất san lấp thêm là 6.000.000đ. Vì vậy tổng là 125.893.000đ. Sau khi trừ đi 9.066.000đ tiền mai táng phí, thuế và quan ly trông nom di san con lai la 116.827.000đ. Gia trị tai san con lai nay tương ưng vơi chi phi định gia tai san la 2.000.000đ đươc chia cu thể như sau:

Tổng gia trị tai san ông L đươc hương la: 1/2 gia trị đất 38.430.000đ + ky phân chia thưa kê cua ông la 9.788.000đ = 48.218.000đ. Ông phai chịu chi phi định gia la 825.500đ.

Chị M đươc hương di san thưa kê la 9.788.000đ + gia trị tai san trên đất la 49.033.000đ = 58.821.000đ, nên phai chịu chi phi định gia la 1.007.000đ.

Chị V đươc hương phân di san thưa kê la 9.788.000đ, nên phai chịu chi phi định gia la 167.500đ.

Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm ông L có đơn xin miễn tiền án phí dân sự. Cấp phúc thẩm thấy rằng ông L đã trên 80 tuổi thuộc đối tượng người cao tuổi quy định tại điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Vì vậy cấp phúc thẩm chấp nhận miễn toàn bộ án phí cho ông Lê Văn L. Các đương sự khác phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh H, chị M không phải chịu. Vì các lẽ trên;=

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Áp dụng khoản 5 Điều 26; Điều 147; Điều 148; Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 623, 649, 651 và 658 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Lê Văn L đối với ½ thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 tại thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L.

2. Xác định diện tích 183m2  đất tại thửa số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L là tài sản chung của ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị L. Theo đó, ông Lê Văn L có 91,5m2, bà Nguyễn Thị L có 91,5m2.

3. Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L là 91,5m2  trong thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L, trị giá: (91,5m2 x 420.000đ/m2) = 38.430.000đ - 9.066.000đ (tiền mai táng phí, thuế và bảo quản di sản) = 29.364.000đ. Theo đó, ông L, chị V và chị M mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế là 29.364.000đ : 3 = 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng).

4. Giao toàn bộ diện tích đất 183m2 và tài sản trên đất (có giá trị 49.033.000đ) tại thửa đất số 19, tờ bản đồ phụ lục 17 thôn Y, xã M, huyện DT, tỉnh Hà Nam mang tên bà Nguyễn Thị L cho ông Lê Văn L quản lý, sử dụng.

5. Ông Lê Văn L có trách nhiệm thanh toán giá trị đất và tài sản trên đất như sau:

- Thanh toán cho chị Lê Thị V: 01 kỷ phần thừa kế tài sản trị giá: 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng).

- Thanh toán cho chị Lê Thị M: 01 kỷ phần thừa kế tài sản trị giá: 9.788.000đ (Chín triệu bẩy trăm tám mươi tám nghìn đồng).

- Thanh toán cho anh Vũ Văn H và chị Lê Thị M số tiền giá trị tài sản trên đất là: 49.033.000đ.

- Thanh toán cho chị Lê Thị M, anh Vũ Văn H khoản tiền mai táng phí, thuế và bảo quản di sản là 9.066.000đ.

6. Bác các yêu cầu khác của đương sự.

7. Án phí và chi phí tố tụng khác:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Luận không phải chịu. Trả lại cho ông L số tiền 2.000.000đ tạm ứng án phí ông L đã nộp ngày 20/7/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

+ Chị Lê Thị M phải chịu số tiền 489.400đ (Bốn trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm đồng);

+ Chị Lê Thị V phải chịu số tiền 489.400đ (Bốn trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm đồng).

- Chi phí định giá tài sản: Ông Lê Văn L phải chịu 825.500đ; Chị Lê Thị V phải chịu 167.500đ; Chị Lê Thị M phải chịu 1.007.000đ. Đối trừ với số tiền ông L đã nộp tạm ứng cho việc định giá tài sản là 2.000.000đ. Nay ông L được nhận lại từ chị Lê Thị V 167.500đ; nhận lại từ chị Lê Thị M là 1.007.000đ.

8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị M và anh H không phải chịu. Trả lại cho chị M 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0000119 ngày 21/7/2017; trả lại cho anh H số tiền 300.000đ tạm ứng án phúc thẩm theo biên lai số 0000118 đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Tiên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


292
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về