Bản án 10/2017/DS-ST ngày 02/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 10/2017/DS-ST NGÀY 02/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 02 tháng  8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2017/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2017 “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐXX-ST ngày 21/7/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1975; trú tại: Tổ P, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Bà T có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1973; trú tại: Tổ Y, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Ông H có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày:

Vào ngày 10 tháng 9 năm 2016 bà T có cho ông H vay số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng). Ông H đã viết giấy và ký xác nhận hẹn 01 tháng sau sẽ trả đủ số tiền gốc và lãi nhưng đến hẹn ông H không trả. Nhiều lần bà T đòi nhưng ông H không trả số tiền còn nợ cho bà T như đã thỏa thuận. Nay bà T yêu cầu ông H phải trả số tiền gốc 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), bà T không yêu cầu tiền lãi.

* Bị đơn ông H trình bày: Ông H thừa nhận có nợ bà T số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng). Giấy mượn tiền ngày 10/9/2016 bà T cung cấp cho Tòa án ông H xác nhận là do ông H viết và ký nên không có yêu cầu gì. Do gia đình ông H làm làm thua lỗ nên ông H xin bà T cho trả dần mỗi tháng 300.000đ cho đến khi hết số nợ trên, còn nếu bà T không đồng ý thì ông H yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; xem xét ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn H, cư trú tại: Tổ Y, phường T,  thị xã A, tỉnh Gia Lai có nợ bà Hồ Thị T, cư trú tại Tổ P, phường N,  thị xã A, tỉnh Gia Lai số tiền 60.000.000đ đến nay xảy ra tranh chấp bà T nộp đơn khởi kiện ông H tại Tòa án nhân dân thị xã A yêu cầu giải quyết. Theo quy định tại Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã A thụ lý giải quyết án dân sự nói trên là đúng thẩm quyền.

2]. Về chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Lê Văn H thừa nhận “Giấy mượn tiền” ngày 10/9/2016 do ông H viết và ký xác nhận. Vì thế, việc ông H có nợ bà T số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng) là sự thật. Ông H cho rằng hiện tại rất khó khăn về kinh tế nên xin trả dần mỗi tháng trả 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) cho đến khi hết số tiền nợ 60.000.000đ cho bà T. Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay bà T không đồng ý với phương án trả nợ mà ông H nêu ra. Vì thế, yêu cầu của ông H không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Việc ông H hiện còn nợ bà T 60.000.000đ chưa trả và các bên đương sự đã xác lập giao dịch dân sự và hoàn thành giao dịch trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực nên theo điều 688 Bộ luật dân sự 2015 thì trường hợp trên được áp dụng Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết. Do vậy, ông H có trách nhiệm phải trả số tiền còn nợ cho bà T là phù hợp theo quy định tại các Điều 471, Điều 474, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005 nên Hội đồng xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ.

[3].  Về khoản lãi: Bà T không yêu cầu tính lãi của số tiền nợ nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Mức án phí có giá ngạch trong vụ án là 5% của giá trị tranh chấp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu của bà T buộc ông H phải trả cho bà T số tiền 60.000.000đ. Như vậy, ông H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147, của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 471, Điều 474, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T.

-  Buộc ông Lê Văn H phải trả cho bà Hồ Thị T số tiền còn nợ là (Sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán với mức lãi suất theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 nếu các bên không thỏa thuận thì mức lãi suất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí: Buộc ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

- Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000910 ngày 30/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã A Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/DS-ST ngày 02/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:10/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị Xã An Khê - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về