Bản án 10/2017/DSST ngày 17/07/2017 về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtvà giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 10/2017/DSST NGÀY 17/07/2017 VỀ YÊU CẦU HỦY HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC HỦY HỢP ĐỒNG

Ngày 17 tháng 07 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đak Song xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ lý số: 139/2016/TLST-DS, ngày 17/6/2016 về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng” theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/Q T-DS ngày 21/04/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Dương Tiến Th. Có mặt. ịa chỉ: Thôn 10 Xã N huyện tỉnh .

Bị đơn: Anh Trần Văn T. V ng mặt hông có lý do. Địa chỉ: Tổ 7 thị trấn huyện tỉnh .

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Chu Thị Mộng K. V ng mặt hông có lý do. Địa chỉ: Tổ 7 thị trấn huyện tỉnh .

+ Anh Nguyễn Bỉnh V. V ng mặt hông lý do.Đ ịa chỉ: Thôn 11 ã N huyện tỉnh .

+ Chị Triệu Thị Q.

Địa chỉ: Thôn 10 ã N huyện tỉnh .

Người đại diện theo ủy quyền của chị Triệu Thị Q: Anh Dương Tiến Th – theo văn bản ủy quyền ngày 26/10/2016. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Triệu Thị Q là anh Dương Tiến Th trình bày: Vào ngày 30/8/2015, anh Th có nhận chuyển nhượng của anh Trần Văn T diện tích hoảng 03ha, giá đổi ngang một chiếc e càng trị giá chiếc e càng 102.000.000đ. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy tờ tay với nhau có chữ ý của người bán rẫy vợ chồng anh T chị K và người mua anh Ph m Văn T (anh rể của anh Th). Lý do anh T đứng ra ý và viết giấy mua bán là do anh Th nhờ anh T đứng ra ý giấy mua bán giúp. Sau hi viết giấy bán rẫy vợ chồng anh T đã nhận e càng và cam ết trong thời gian 02 tháng sẽ bàn giao rẫy cho anh Th. ến ngày 29/09/2015, anh Th tiếp tục nhận chuyển nhượng thêm 01 lô đất rẫy liền ề rẫy anh T bán trước đó cho anh Th diện tích hoảng 5.000m2 với giá 70.000.000đ và anh T đã nhận đủ số tiền 70.000.000đ, khi chuyển nhượng hai bên viết giấy tờ tay có chữ ý của anh T. Cả 02 lô đất anh T chuyển nhượng cho anh Th điều do Công ty TNHH MTV quản lý. Đến thời hạn giao rẫy anh T không giao rẫy cho anh Th và do đất tranh chấp với nhiều người nên anh Th đề nghị vợ chồng anh T trả laij số tiền và xe càng đã nhận anh T có trả cho anh Th được số tiền 10.000.000đ. Nay anh Th làm đơn thực hiện ra Tòa án đề nghị Tòa án hủy hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/8/2015 và ngày 29/9/2015 và yêu cầu anh T chị K (vợ anh T) trả l i số tiền 60.000.000đ còn lại và xe càng đã nhận hiện nay e càng anh T đã bán cho người khác thì đề nghị anh T trả l i tiền theo giá trị xe càng tại thời điểm chuyển nhượng.

Tại bản tự khai ngày 01/7/2016 và biên bản lấy lời khai ngày 01/7/2016 bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Anh T thừa nhận có chuyển nhượng diện tích đất rẫy có hoảng 150 cây bơ 350 trụ tiêu với giá thỏa thuận đổi lấy 01 e càng và số tiền mặt 70.000.000đ như anh Th trình bày là đúng hi chuyển nhượng hai bên có viết giấy tờ tay có chữ ý của hai bên. au hi nhận đủ tiền và nhận e càng thì anh T giao rẫy cho anh Th. Xe càng hiện nay anh T đã bán cho anh Nguyễn ình với giá 60.000.000đ. Do hông hiểu biết pháp luật nên anh T hông biết diện tích đất rừng trên do Công ty TNHH MTV quản lý nên anh mới chuyển nhượng cho anh Th.Việc anh Th thực hiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng anh hông đồng ý anh hông đồng ý trả số tiền 70.000.000đ vì anh Th đã làm tiêu và bơ của anh uống cấp.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2016, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị Mộng K trình bày: Chị K là vợ của anh Trần Văn T chị biết anh T có 01 mảnh rẫy hai hoang đó là tài sản riêng của anh T sau đó bán cho anh Th trong giấy mua bán rẫy thì chị hông ý nhưng trong giấy đổi e càng đề ngày 30/8/2015 thì chị có ký vào lý do là do anh Th yêu cầu hai vợ chồng cùng ý. au hi ý giấy đổi e càng thì vợ chồng chị nhận e càng sau đó bán l i cho anh với số tiền 60.000.000đ.

Số tiền vợ chồng chị bán rẫy cho anh Th 70.000.000đ và số tiền bán e càng thì vợ chồng đều dùng vào mục đích đầu tư vào rẫy tiêu cho gia đình. Nay anh Th thực hiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và trả là số tiền 70.000.000đ e càng vợ chồng chị hông đồng ý vì rẫy đã giao cho anh Th làm còn e càng thì vợ chồng chị cũng đã bán cho người hác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/11/2016, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bỉnh V trình bày:

Diện tích đất anh T chuyển nhượng cho anh Th có nguồn gốc là đất của ông H hai hoang chuyển nhượng l i cho anh T hoảng 02 sào sau đó anh T l i tự ý chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích đất của ông H cho anh Th. Diện tích đất trên ông H đã lấy l i (đã trừ ra phần diện tích 02 sào đã chuyển nhượng cho anh T) và chuyển nhượng cho anh Nguyễn Bỉnh V giá 150.000.000đ vào tháng 5/2016. Hiện nay anh V đang quản lý sử dụng toàn bộ phần diện tích đất trên. Diện tích đất trên trước đây ông H trồng được hoảng 300 trụ tiêu giả và trụ sống 100 cây bơ. Thời điểm anh T chuyển nhượng đất cho anh Th thì cũng nhờ anh ý làm chứng vào giấy sang nhượng anh cũng hông đọc nội dung như thế nào. Quan điểm của anh V về việc giải quyết vụ án là đề nghị Toà án huỷ hợp đồng chuyển nhượng giữa anh T và anh Th vì trái pháp luật, anh T phải có trách nhiệm trả lại tiền cho anh Th. ối với phần diện tích đất anh nhận chuyển nhượng từ ông H nay thuộc quyền sử dụng của anh hông liên quan đến ông H nếu Công ty thu hồi l i đất thì anh trả l i cho công ty anh sẽ hông có ý iến gì.

Người làm chứng anh Phạm Văn T trình bày: Trong giấy đổi e càng lấy rẫy đề ngày 30/8/2015 do anh T đứng ra viết giấy và ý vào giấy mua bán đó. Lý do anh T đứng ra ý vào bên người mua là do anh Th em vợ của anh T nhờ anh T đứng ra ký giấy giúp. Việc chuyển nhượng đó là giữa anh Th với anh T hông liên quan đến anh T. Thời điểm đổi e càng lấy rẫy anh T và anh Th thỏa thuận giá trị e càng là 102.000.000đ sau hi viết giấy ong anh T em e rồi nhận e và hông có ý iến gì.

Người làm chứng anh Nguyễn Bỉnh Đ trình bày: Anh mua e càng của anh T giá 60.000.000đ thời điểm mua e giá trị sử dụng hoảng được 50% e ho t động tốt. Hiện nay e anh vẫn đang sử dụng. Do bận việc gia đình nên anh đề nghị Tòa án tiến hành t ử v ng mặt đối với anh.

Người làm chứng anh Huỳnh Thanh H trình bày: Anh H đóng và bán e càng trên cho anh Th vào năm 2015 với giá 110.000.000đ hi bán hai bên có viết giấy tờ tay với nhau. ặc điểm e tự chế vô lăng cầu nhíp máy Giang ông lốp đ p 8.25 đinamô phát điện s t B7 nhà Bè tôn thùng.

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đ t hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn anh Trần Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị Mộng K, anh Nguyễn Bỉnh V. Tuy nhiên anh T chị K và anh V v ng t i phiên đối chất phiên họp iểm tra việc giao nộp tiếp cận công hai chứng cứ hòa giải về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và phiên Tòa lần thứ nhất. Vì vậy Tòa án không tiến hành đối chất được và hông tiến hành hòa giải về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa các đương sự với nhau.

Đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ong iểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:

Qua nghiên cứu đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán Hội đồng t ử (H XX); Thư ý Tòa án và những người tham gia tố tụng thì thấy: Thẩm phán Hội đồng t xử; Thư ý Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa tốt cụ thể: Không chấp hành giấy triệu tập đối chất thông báo phiên họp iểm tra việc giao nộp tiếp cận công hai chứng cứ và hòa giải về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ết quả tranh luận t i phiên tòa đề nghị H XX chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

Ngoài các chứng cứ là các bản tự hải biên bản lấy lời hai biên bản em t thẩm định t i chỗ biên bản định giá tài sản thì trong quá trình giải quyết vụ án bên nguyên đơn cung cấp các chứng cứ cho Tòa án: Giấy đổi rẫy lấy e càng đề ngày 30/8/2015 (bản gốc); giấy sang nhượng đất trồng hoa màu đề ngày 26/6/2015 (bản gốc); giấy sang nhượng đất trồng hoa màu đề ngày 29/9/2015 (bản gốc); giấy mua bán đất trồng hoa màu đền ngày 06/10/2015 (bản gốc) (đặc điểm chứng cứ giao nhận như biên bản giao nhận chứng cứ ngày 17/10/2016) và 01 hợp đồng đóng e càng đề ngày 22/4/2015 (bản gốc) (đặc điểm chứng cứ giao nhận như biên bản giao nhận chứng cứ ngày 22/11/2016).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Anh Dương Tiến Th thực hiện anh Trần Văn T về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng” theo quy định t i hoản 3 iều 26 BLTTD . Bất động sản tranh chấp thuộc lâm phần do Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp quản lý thuộc địa giới hành chính thôn 11, xã N, huyện tỉnh . Vì vậy tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện ong theo quy định tại điểm a hoản 1 iều 35; điểm a hoản 1 iều 39 BLTTD .

 [2] Về chấp hành pháp luật của đương sự: Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hông chấp hành pháp luật. Như vậy bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại điều 6, điều 72 BLTTD .

 [3] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Th và anh T chị K H XX thấy rằng: Vào ngày 30/8/2015, anh Th có nhận chuyển nhượng của anh T 01 lô đất giá trị đổi ngang một chiếc xe càng. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy tờ tay với nhau có chữ ý của người bán rẫy là vợ chồng anh T chị K. Anh Th có nhờ anh rể là Ph m Văn T đứng ra viết giấy mua bán anh T cũng thừa nhận việc này (bút lục 31 32). au hi viết giấy bán rẫy vợ chồng anh T đã nhận e càng và hiện nay xe càng vợ chồng anh đã bán cho anh Nguyễn Bỉnh . ến ngày 29/09/2015 anh Th tiếp tục nhận chuyển nhượng thêm 01 lô đất rẫy liền ề rẫy anh T chuyển nhượng trước đó cho anh Th diện tích hoảng 5.000m2 với giá 70.000.000đ và anh T đã nhận đủ số tiền 70.000.000đ hi chuyển nhượng hai bên có lập giấy tờ tay có chữ ý của anh T. Cả 02 lô đất anh T chuyển nhượng cho anh Th điều do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp quản lý ung quanh là rừng nguyên sinh. Vợ chồng anh T cũng thừa nhận việc chuyển nhượng này là có thật và cũng thừa nhận đã nhận e càng và số tiền 70.000.000đ của anh Th theo quy định t i iều 92 của BLTTD 2015 thì đây là những tình tiết sự iện hông phải chứng minh.

Diện tích đất các bên tự ý chuyển nhượng cho nhau là đất rừng do Công ty TNHHMTV quản lý nên đã vi ph m điều cấm của pháp luật quy định tại điều 128 của Bộ luật Dân sự 2005 và điểm a.6 mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004/NQ–HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự hôn nhân gia đình nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này bị vô hiệu. Do vây, yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/8/2015 và đề ngày 29/9/2015 của anh Th có cơ sỏ chấp nhận.

Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu nên theo quy định tại điều 137 BLDS 2005 quy định: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.

 [4] Trong quá trình giải quyết vụ án anh Th chị Q chỉ yêu cầu anh T chị K trả l i những tài sản đã nhận hông yêu cầu bồi thường nên hông em t vấn đề bồi thường. Tại thời điểm chuyển nhượng hai bên thỏa thuận giá trị lô đất là đổi ngang 01 chiếc e càng và số tiền 70.000.00đ. Vợ chồng anh T chị K đã nhận e càng và số tiền 70.000.000đ từ anh Th chị Q; anh T đã trả l i cho anh Th chị Q được số tiền 10.000.000đ hi tuyên bố hợp đồng vô hiệu anh T và chị K phải trả lai cho anh Th, chị Q toàn bộ số tiền 60.000.000đ còn lại và xe càng. Tuy nhiên hiện nay anh T chị K đã bán chiếc e này cho anh quá trình giải quyết vụ án anh Th yêu cầu anh T trả l i giá trị của e càng t i thời điểm mua bán nên cần buộc anh T chị K thanh toán cho anh Th chị Q giá trị chiếc e càng tại thời điểm chuyển nhượng. Theo ết quả định giá tài sản giá trị e càng tại thời điểm hai bên thỏa thuận đổi là 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) nên cần buộc anh T chị K trả l i cho anh Th chị Q tổng số tiền 155.000.000đ. Còn đối với phần diện tích đất chuyển nhượng là đất rừng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp quản lý, anh Th cũng chưa được nhận đất nên hông đặt ra vấn đề trả lại đất chuyển nhượng.

Do đất các bên chuyển nhượng cho nhau là đất rừng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp quản lý nên Hội đồng định giá tài sản hông định giá về đất mà định giá về tài sản trên đất và định giá giá trị e càng. Theo biên bản định giá tài sản ngày 11/01/2017 tổng giá trị tài sản trên đất và giá trị xe càng là 97.205.000đ (Chín mươi bảy triệu hai trăm linh năm nghìn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự 2015 để tính lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền chậm thi hành cho đến khi thi hành án xong.

 [5] Về chi phí em t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: chi phí thẩm định định giá tài sản là 2.500.000đ số tiền này do anh Th đã nộp t m ứng trước. Do yêu cầu của anh Th được chấp nhận nên cần buộc anh T chị K phải hoàn trả lạii cho anh Th số tiền 2.500.000đ.

 [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là 200.000đ do yêu cầu thực hiện của anh Th được chấp nhận nên buộc anh T chị K phải nộp toàn bộ số tiền trên.

Án phí dân sự sư thẩm về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do anh T chị K phải trả cho anh Th chị Quy số tiền 155.000.000đ nên anh T chị K phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 155.000.000đ x 5% = 7.750.000đ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Hoàn trả cho anh Dương Tiến Th chị Triệu Thị Q số tiền 4.250.000đ đã nộp t m ứng án phí theo biên lai số 000205, ngày 17/6/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện 

 [7] Về quyền háng cáo: Các bên đượng sự được quyền háng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 128 điều 137 của BLDS 2005; điểm a.6 mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004/NQ–H TP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án năm 2009; hoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 143; điều 147; điều 164;điều 264; điều 267; điều 271 và điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/8/2015 và ngày 29/9/2015 giữa anh Dương Tiến Th và anh Trần Văn T chị Chu Thị Mộng K là hợp đồng vô hiệu.

2. Buộc vợ chồng anh Trần Văn T, chị Chu Thị Mộng K trả l i cho anh Dương Tiến Th, chị Triệu Thị Q số tiền 155.000.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền p hải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về chi phí định giá tài sản: Buộc anh Trần Văn T chị Chu Thị Mộng K phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí em t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Anh Dương Tiến Th chị Triệu Thị Q đã nộp t m ứng toàn bộ số tiền này nên anh T chị K phải hoàn trả l i cho anh Th chị Q số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

4. Về án phí D T: Buộc vợ chồng anh Trần Văn T chị Chu Thị Mộng K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với hợp đồng dân sự vô hiệu và 7.750.000đ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm hi giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

Hoàn trả cho anh Dương Tiến Th chị Triệu Thị Q số tiền 4.250.000đ (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp t m ứng án phí theo biên lai số 000205, ngày 17/6/2016 t ạ Chi cục thi hành án dân sự huyện ong.

5. Về quyền háng cáo: Nguyên đơn anh Dương Tiến Th; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Triệu Thị Q có quyền háng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Trần Văn T; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chu Thị Mộng K Nguyễn Bỉnh V có quyền háng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”


88
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/DSST ngày 17/07/2017 về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtvà giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng

Số hiệu:10/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/07/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về