Bản án 10/2017/HNGĐ-ST ngày 30/05/2017 về tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 10/2017/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2017 VỀ TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 30 tháng 5 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2017/HNGĐ-ST ngày 02/02/2017 về việc “Tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Hồng T - sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ 3, Khu 9, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Chị T đang sinh sống và làm việc tại Ma Cao - Trung Quốc về Việt Nam và tạm trú tại: Khu 10, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ).

2. Bị đơn: Anh Vũ Chiến H - sinh năm 1976.

Địa chỉ: Tổ 3, Khu 9, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

(Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn đề nghị giải quyết việc nuôi con chung ngày 23/01/2017 và lời khai chị Lê Hồng T trình bày: Chị và anh Vũ Chiến H đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho ly hôn tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 32/2016/HNGĐ - ST ngày 01/9/2016 nhưng việc nuôi con chung chưa giải quyết. Chị khai chị và anh H có hai con chung là các cháu: Vũ Thị Thanh Phương - sinh ngày 29/01/1999 và cháu Vũ Minh Hiếu - sinh ngày 20/01/2011. Hiện nay cháu Phương đang ở với anh H, cháu Hiếu đang ở với chị. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hiếu, anh H trực tiếp nuôi cháu Phương. Hai bên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Chị tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí sơ thẩm. Chị đề nghị không kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là anh Vũ Chiến H trình bày: Anh và chị T chỉ có một con chung là cháu Vũ Thị Thanh Phương - sinh ngày 29/01/1999. Hiện cháu Phương đang ở với anh. Cháu Phương muốn ở với bố hoặc mẹ là quyền của cháu và anh đồng ý với sự lựa chọn của cháu. Anh không yêu cầu chị T phải đóng góp nuôi con nếu cháu Phương ở với anh. Anh không phải là cha của cháu Vũ Minh Hiếu. Gia đình anh đã xét nghiệm gen (AND) tại Trung tâm giám định sinh học pháp lý - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an có kết luận anh không phải là cha của cháu Hiếu, nên anh yêu cầu chị T phải làm lại giấy khai sinh của cháu Hiếu không được mang họ của anh. Anh đề nghị không kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và xin xét xử vắng mặt.

Cháu Vũ Thị Thanh Phương trình bày: Hiện nay bố mẹ cháu đã ly hôn và Tòa án đang giải quyết việc nuôi con, quan điểm của cháu là cháu xin được ở với bố. Cháu xin vắng mặt tại phiên xét xử.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung của chị Lê Hồng T, giao cháu Vũ Thị Thanh Phương cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Vũ Minh Hiếu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Hồng T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết việc nuôi con chung. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt, căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung của chị Lê Hồng T: Theo chị T thì chị và anh H có hai con chung là các cháu Vũ Thị Thanh Phương - sinh ngày 29/01/1999 và cháu Vũ Minh Hiếu - sinh ngày 20/01/2011. Anh H không thừa nhận cháu Hiếu là con. Anh H cung cấp chứng cứ để chứng minh đó là bản Kết quả phân tích gen (ADN) ngày 07/4/2015 của Trung tâm giám định sinh học pháp lý - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, nhưng là bản Photo không có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp xác nhận mà không xuất trình bản chính dù đã được yêu cầu. Vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì văn bản trên không được coi là chứng cứ. Mặt khác, cháu Hiếu sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của anh H và chị T, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì cháu Hiếu là con chung của anh chị. Vì vậy căn cứ các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết về nuôi con chung của chị T. Hiện cháu Phương đang ở với anh H, cháu Phương có nguyện vọng được ở với anh H nên sẽ giao cháu Phương cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Hiếu đang ở với chị T, chị T xin được nuôi cháu Hiếu nên sẽ giao cháu Hiếu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do anh H và chị T đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh H, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về việc anh H yêu cầu chị T phải làm lại giấy khai sinh của cháu Hiếu không được mang họ của anh: Yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[4] Về án phí: Chị T tự nguyện chịu cả tiền án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/BTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà chị T phải chịu là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, các quy định của pháp luật tố tụng và Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 68; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 88; Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Giao cháu Vũ Thị Thanh Phương - Sinh ngày 29/01/1999 cho anh Vũ Chiến H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Giao cháu Vũ Minh Hiếu - Sinh ngày 20/01/2011 cho chị Lê Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh H không phải cấp dưỡng cho cháu Hiếu, chị T không phải cấp dưỡng cho cháu Phương. Anh H, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Lê Hồng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 009681 ngày 24/01/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Chị Lê Hồng T, anh Vũ Chiến H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.


90
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/HNGĐ-ST ngày 30/05/2017 về tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:10/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/05/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về