Bản án 10/2018/HNGĐ-PT ngày 22/10/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 10/2018/HNGĐ-PT NGÀY 22/10/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 10/2018/HNGĐ-PT ngày 29/8/2018 do có kháng cáo của bị đơn anh Lê Hữu T đối với Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2018/HNGĐ-ST ngày 23/07/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXPT-DS ngày 08/10/2018:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H. Sinh năm 1984.

Địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Lê Hữu T. Sinh năm 1979.

Địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh huyện H - Phòng Giao dịch xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H. Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch xã P. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Anh Lê Hữu T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2018/HNGĐ-ST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về tình cảm: Chị H và anh Lê Hữu T đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2005 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại quận T, thành phố Hồ Chí Minh được một thời gian rồi chuyển về sống tại Xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, xung đột, hay ghen tuông.

Anh T thường xuyên gây áp lực, say xỉn về nhà đánh đập, chửi bới chị H. Ngày 26/6/2017, chị H đã làm đơn xin ly hôn lên Tòa án nhưng đã được Tòa án hòa giải đoàn tụ. Tuy nhiên đến nay, chị H đã thực sự không còn tình cảm với chồng nữa nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Lê Hữu T.

Về con chung: Vợ chồng không sinh được con nên đã thống nhất nhận nuôi con tên là Lê Hồng A, sinh ngày 10/9/2014. Chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu anh Lê Hữu T phải cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra chị H còn có 01 con riêng mới sinh vào tháng 4 năm 2018 Chị H xác định đây là con riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng có các tài sản chung sau: 01 ngôi nhà xây gắn liền với mảnh vườn có diện tích 157,5 m2; 01 bàn gỗ; 01 phản gỗ; 01 quạt cây; 01 quạt treo tường; 01 tủ lạnh; 01 điều hòa; 01 bộ máy giặt công nghiệp; 01 bộ tiện gỗ. Vợ chồng có nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện H, tỉnh Hà Tĩnh số tiền: 300.000.000đồng và lãi kèm theo. Chị H đề nghị Tòa sau khi trừ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi, còn bao nhiêu tiền thì chia đôi theo giá trị và chị có nguyện vọng xin được nhận toàn bộ tài sản chung và nhận nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, đồng thời ngoài khoản phụ chia chênh lệch tài sản mà anh T được hưởng theo quy định của pháp luật thì chị H xin tự nguyện giao cho anh T thêm một số tiền để đủ 500.000.000đ, tạo điều kiền cho anh T xây dựng cuộc sống mới.

- Bị đơn anh Lê Hữu T trình bày:

Về tình cảm: Anh T thừa nhận điều kiện, thời gian và nơi đăng ký kết hôn của vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Vợ chồng sống hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên có lời qua tiếng lại. Tuy nhiên anh T cho rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chưa đến mức quá trầm trọng như lời chị H trình bày ở trên. Nay chị H xin ly hôn, anh T thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung (nhận con nuôi) như chị H trình bày là đúng thực tế. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Anh T nhất trí với số tài sản và nợ như chị H trình bày. Anh T có nguyện vọng lấy toàn bộ tài sản, chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời nhận phụ chia cho chị H số tiền: 100.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án do các bên đương sự chỉ thống nhất số lượng tài sản chung, mà không thống nhất được về giá trị tài sản, nên Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản chung của vợ chông. Kết quả định giá đã xác định giá trị tài sản chung của anh T và chị H có tổng giá trị 529.368.252đ.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện H, tỉnh Hà Tĩnh bà Nguyễn Thị H có ý kiến: Về số tiền nợ gốc đúng như chị H và anh T trình bày là 300.000.000đ. Về tiền lãi phát sinh tính đến ngày 23/7/2018 là 19.450.000đ. Nay chị H, anh T ly hôn Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc chị H, anh T sau khi ly hôn phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh cho phía Ngân hàng. Đề nghị Tòa án buộc người được giao quyền sử dụng đất với nhà phải có nghĩa vụ trả nợ, vì hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và anh T, chị H có thế chấp bằng quyền sử dụng đất và nhà ở. Đồng thời tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản bằng quyền sử dụng đất để đảm bảo việc thu hồi vốn của Ngân hàng.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2018/HNGĐ-ST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58; Điều 59; Khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, b khoản 1 Điều 24; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm b mục 1.1 phần II danh mục kèm theo Nghị quyết. Tuyên xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H với anh Lê Hữu T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con Lê Hồng A, sinh ngày 10/9/2014 cho anh Lê Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ:

3.1. Về tài sản chung:

Giao cho chị Nguyễn Thị H sử dụng các tài sản bao gồm:

- Đất đai: Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 01, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00029 tại Quyết định số 4259/QĐ-UBND ngày 07/11/2011, diện tích: 157,5m2 có trị giá: 399.881.250đ, ở tại Xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;

- Công trình, vật kiến trúc:

+ Nhà ở 01 tầng: Móng bê tông cốt thép kết hợp xây đá, khung chịu lực, tường bao che bằng táp lô 150; chiều cao hộc 3,8m; nền lát gạch ceramic, tường quét vôi ve; mái BTCT; hệ thống điện, nước, vệ sinh khép kín, diện tích 59,40 m2 có trị giá: 52.877.286 đồng;

+ Khung ngoại gỗ dổi (cửa chính + 2 cửa sổ), diện tích 21,00m có trị giá: 4.586.400 đồng;

+ Cửa chính bằng ván gỗ lim (có khung), diện tích 7 m2 có trị giá: 7.350.000 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (có khung), diện tích 5,04 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,35 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Song cửa sổ (4 cửa sổ), diện tích 7,39 m2 có trị giá: 1.395.878 đồng;

+ Cửa đi bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,94 m2 có trị giá: 1.975.680 đồng;

+ Gác lửng bằng gỗ, diện tích 36,48 m2, kích thước: 6,4m*5,9m có trị giá: 4.596.480 đồng;

+ Đà gác lửng bằng gỗ de, diện tích 1.00 m3, tiết diện: 0,12m*0,18m, dài: (6,4m*6m)+8m, có trị giá: 6.629.818 đồng;

+ Mái che: Cột BTCT, khung sườn bằng gỗ, lợp tôn màu, diện tích 93.00 m2, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 8.788.500 đồng;

+ Nền bê tông gạch vỡ, láng vữa xi măng, mác 75, diện tích 93.00 m3, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 2.343.600 đồng;

+ Cột cổng không mái: Móng xây đá hộc kết hợp BTCT, thân xây tap lô, trụ có lõi BTCT, trát vữa xi măng, không phào chỉ, quét vôi, diện tích 1.70 m3 có trị giá: 2.610.297 đồng;

+ Tường rào xây bằng tap lô 150, trát 2 mặt vữa xi măng mác 50, quét vôi, diện tích 3,36 m2 có trị giá: 350.330 đồng; 

- Tài sản, vật dụng khác gồm:

+ 01 mặt bàn gỗ de, kích thước: 2,38m x 0,60m x 0,11m có trị giá: 1.350.000 đồng;

+ 01 phản gỗ dổi, kích thước: 1,73m x 3,3m x 0,11m có trị giá: 9.900.000 đồng;

+ 01 giá đỡ ti vi bằng gỗ, kích thước: 2,37m x 0,60m x 0,6m có trị giá: 900.000 đồng;

+ 01 khối gỗ tự nhiên hình trụ (gỗ chua), kích thước: đường kính 0,9m; cao 0,7m có trị giá 320.000 đồng;

+ 01 quạt tường Senko có trị giá 270.000 đồng;

+ 01 quạt cây Senko có trị giá 150.000 đồng;

+ 01 tủ lạnh Panasonic có trị giá 1.600.000 đồng;

+ 01 điều hòa Panasonic có trị giá 3.750.000 đồng;

+ 01 bộ máy giặt, sấy công nghiệp có trị giá 10.800.000 đồng;

+ 01 máy tiện gỗ có trị giá 2.600.000 đồng.

3.2. Về nợ:

Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả số số tiền 319.450.000đ (Trong đó tiền nợ gốc 300.000.000đ và tiền lãi phát sinh đến ngày 23/7/2018 là 19.450.000đ) Cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện H - Phòng giao dịch xã P, Hương Khê, Hà Tĩnh.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (23/7/2018), chị Nguyễn Thị H tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 32214519/C/HĐTD ngày 18/8/2017.

Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 42961/C/HĐTC ngày 14/8/2017 cho đến khi chị Nguyễn Thị H thực hiện xong việc trả nợ.

Đồng thời chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh Lê Hữu T số tiền 104.959.126đ, tiền chênh lệch tài sản và 396.000.000đ tiền chị Nguyễn Thị H tự nguyện hỗ trợ cho anh Lê Hữu T sau khi ly hôn.

Anh Lê Hữu T được quyền sở hữu số tiền 500.959.126đ do chị Nguyễn Thị H giao.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 30/7/2018 bị đơn anh Lê Hữu T kháng cáo về nội dung phân chia tài sản: Anh T cho rằng cấp sơ thẩm xét xử không đúng quy định của pháp luật mà đi ngược lại với Viện kiểm sát. Anh T yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử cho anh được lấy lại mảnh đất theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân thủ theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của bị đơn. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2018/HNGĐ-ST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của các đương sự, kết quả tranh luận, ý kiến của đại điện Viện kiểm sát;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của bị đơn anh Lê Hữu T. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Về quan hệ tài sản chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Biên bản định giá tài sản ngày 22/3/2018, Hội đồng xét xử xác định tài sản chung của vợ chồng gồm có các loại tài sản và giá trị như sau:

- Đất đai: Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 01, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00029 tại Quyết định số 4259/QĐ-UBND ngày 07/11/2011, diện tích: 157,5m2, đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Lê Hữu T, chị Nguyễn Thị H, có trị giá: 399.881.250 đồng;

- Công trình, vật kiến trúc:

+ Nhà ở 01 tầng: Móng bê tông cốt thép kết hợp xây đá, khung chịu lực, tường bao che bằng táp lô 150; chiều cao hộc 3,8m; nền lát gạch ceramic, tường quét vôi ve; mái BTCT; hệ thống điện, nước, vệ sinh khép kín, diện tích 59,40 m2 có trị giá: 52.877.286 đồng;

+ Khung ngoại gỗ dổi (cửa chính + 2 cửa sổ), diện tích 21,00m có trị giá: 4.586.400 đồng;

+ Cửa chính bằng ván gỗ lim (có khung), diện tích 7 m2 có trị giá: 7.350.000 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (có khung), diện tích 5,04 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,35 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Song cửa sổ (4 cửa sổ), diện tích 7,39 m2 có trị giá: 1.395.878 đồng;

+ Cửa đi bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,94 m2 có trị giá: 1.975.680 đồng;

+ Gác lửng bằng gỗ, diện tích 36,48 m2, kích thước: 6,4m*5,9m có trị giá: 4.596.480 đồng;

+ Đà gác lửng bằng gỗ de, diện tích 1.00 m3, tiết diện: 0,12m*0,18m, dài: (6,4m*6m)+8m, có trị giá: 6.629.818 đồng;

+ Mái che: Cột BTCT, khung sườn bằng gỗ, lợp tôn màu, diện tích 93.00 m2, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 8.788.500 đồng;

+ Nền bê tông gạch vỡ, láng vữa xi măng, mác 75, diện tích 93.00 m3, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 2.343.600 đồng;

+ Cột cổng không mái: Móng xây đá hộc kết hợp BTCT, thân xây táp lô, trụ có lõi BTCT, trát vữa xi măng, không phào chỉ, quét vôi, diện tích 1.70 m3 có trị giá: 2.610.297 đồng;

+ Tường rào xây bằng tap lô 150, trát 2 mặt vữa xi măng mác 50, quét vôi, diện tích 3,36 m2 có trị giá: 350.330 đồng;

- Tài sản, vật dụng khác gồm:

+ 01 mặt bàn gỗ de, kích thước: 2,38m x 0,60m x 0,11m có trị giá: 1.350.000 đồng;

+ 01 phản gỗ dổi, kích thước: 1,73m x 3,3m x 0,11m có trị giá: 9.900.000 đồng;

+ 01 giá đỡ ti vi bằng gỗ, kích thước: 2,37m x 0,60m x 0,6m có trị giá: 900.000 đồng;

+ 01 khối gỗ tự nhiên hình trụ (gỗ chua), kích thước: đường kính 0,9m; cao 0,7m có trị giá 320.000 đồng;

+ 01 quạt tường Senko có trị giá 270.000 đồng;

+ 01 quạt cây Senko có trị giá 150.000 đồng;

+ 01 tủ lạnh Panasonic có trị giá 1.600.000 đồng;

+ 01 điều hòa Panasonic có trị giá 3.750.000 đồng;

+ 01 bộ máy giặt, sấy công nghiệp có trị giá 10.800.000 đồng;

+ 01 máy tiện gỗ có trị giá 2.600.000 đồng;

Tổng trị giá tài sản chung của hai vợ chồng là: 529.368.252 đồng ( Năm trăm hai mươi chín triệu ba trăm sáu mươi tám ngàn hai trăm năm mươi hai đồng).

Hiện anh T, chị H đang nợ Ngân hàng số tiền 319.450.000đ, do vậy giá trị tài sản của mỗi người được hưởng sau khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ là: 104.959.126 đồng.

Xét đây là khối tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, anh T và chị H đều thừa nhận nguồn gốc mảnh đất ở mà hai vợ chồng sinh sống là của bố mẹ anh T cho vợ chồng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mang tên quyền sử dụng của anh T, chị H và vợ chồng đã dùng vào việc thế chấp vay Ngân hàng để lấy vốn làm ăn, tài sản do hai người cùng nhau đóng góp tạo dựng mà có. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không tự giải quyết được với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 Điều 59; Khoản 2 Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4, khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc phải chia đôi, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Xét các loại tài sản chung của anh T, chị H thấy: Đối với phần diện tích đất 157,5m2 gắn liền với ngôi nhà xây nên việc chia đôi phần diện tích đất và nhà sẽ không phù hợp. Còn các loại tài sản khác đa phần đang gắn liền với ngôi nhà nên nếu chia đôi bằng hiện vật cũng sẽ làm giảm bớt giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao toàn bộ tài sản cho một người sử dụng, kèm theo nghĩa vụ trả nợ và thanh toán cho bên kia phần chênh lệch tính bằng tiền. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm phiên toà phúc thẩm anh T và chị H đều có nguyện vọng lấy toàn bộ tài sản. Trong đó anh T chỉ đồng ý phụ chia cho chị H số tiền 100.000.000đ, còn chị H có ý kiến người nhận toàn bộ tài sản thì phải vừa phụ chia chênh lệch và hỗ trợ cho người không nhận tài sản với tổng số tiền 500.000.000đ.

Xét điều kiện, hoàn cảnh của các đương sự Hội đồng xét xử thấy: Sau khi ly hôn, chị H là phụ nữ, vừa mới sinh con, còn nuôi con nhỏ nên nhu cầu về chỗ ở cũng như các vật dụng thiết yếu cho cuộc sống sinh hoạt của chị và con là rất cần thiết, chị H làm nghề giặt sấy quần áo tại gia đình đã lâu. Anh T là người đàn ông, có sức khỏe, có điều kiện hơn để có thể tự lo cho cuộc sống của mình. Do vậy, cần giao toàn bộ tài sản có giá trị 529.368.252 đồng cho chị H trực tiếp sử dụng, đồng thời chị H phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ 319.450.000đ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện H (Trong đó tiền gốc là 300.000.000đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 23/7/2018 là 19.450.000đ), chị H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền chênh lệch 104.959.126đ cho anh T.

Quá trình giải quyết vụa án chị H có nguyện vọng xin được hỗ trợ thêm cho anh T một số tiền 396.000.000đ cho đủ 500.000.000đ để anh T có thể sớm ổn định cuộc sống sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của chị H hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, mặt khác việc hỗ trợ của chị H không những tạo điều kiện cho anh T sớm ổn định cuộc sống sau ly hôn mà còn để anh T có điều kiện chăm sóc cho cháu Lê Hồng A được tốt hơn. Hơn nữa trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa ưu tiên cho anh T nhận toàn bộ tài sản, đồng thời anh T phải có nghĩa vụ phụ chia tài sản và hỗ trợ cho chị H với tổng số tiền 500.000.000đ, nhưng anh T đã không đồng ý.

Mặt khác ngoài tiền phụ chia chênh lệch tài sản và tiền do chị H tự nguyện hỗ trợ sau ly hôn thì Hội đồng xét xử xét thấy tại biên bản hòa giải ngày 21/3/2018 cả anh T và chị H thừa nhận vợ chồng còn có tài sản chung là quyền sử dụng đối với 6,6ha đất rừng đã trồng keo 03 tuổi, đường kính 4cm đến 6cm, mật độ 18 đến 20 cây trên 100m2. Cả chị H và anh T không yêu cầu chia khối tài sản này nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án. Tại phiên tòa chị H đã có ý kiến để lại toàn bộ khối tài sản này để riêng cho anh T tiếp tục sử dụng, sở hữu sau khi ly hôn. Do đó, sau ly hôn anh T vẫn có đủ điều kiện về vật chất để đảm bảo cuộc sống cho mình cũng như nuôi con sau ly hôn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc cấp sơ thẩm xử giao toàn bộ tài sản của vợ chồng chọ chị Nguyễn Thị H được quản lý sử dụng, đồng thời chị H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, phụ chia tài sản và hỗ trợ cho anh T 500.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Dó đó không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Lê Hữu T.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a, b khoản 1 Điều 24; điểm a, b khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục kèm theo Nghị quyết 326/2016: Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Lê Hữu T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Kháng cáo của anh Lê Hữu T không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Lê Hữu T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2018/HNGĐ-ST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, b khoản 1 Điều 24; điểm a, b khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm b mục 1.1 phần II danh mục kèm theo Nghị quyết. Tuyên xử:

1. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

1.1. Về tài sản chung:

Giao cho chị Nguyễn Thị H sử dụng các tài sản bao gồm:

- Đất đai: Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 01, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00029 tại Quyết định số 4259/QĐ-UBND ngày 07/11/2011, diện tích: 157,5m2 có trị giá: 399.881.250đ, ở tại Xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;

- Công trình, vật kiến trúc:

+ Nhà ở 01 tầng: Móng bê tông cốt thép kết hợp xây đá, khung chịu lực, tường bao che bằng táp lô 150; chiều cao hộc 3,8m; nền lát gạch ceramic, tường quét vôi ve; mái BTCT; hệ thống điện, nước, vệ sinh khép kín, diện tích 59,40 m2 có trị giá: 52.877.286 đồng;

+ Khung ngoại gỗ dổi (cửa chính + 2 cửa sổ), diện tích 21,00m có trị giá: 4.586.400 đồng;

+ Cửa chính bằng ván gỗ lim (có khung), diện tích 7 m2 có trị giá: 7.350.000 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (có khung), diện tích 5,04 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Cửa sổ bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,35 m2 có trị giá: 2.963.520 đồng;

+ Song cửa sổ (4 cửa sổ), diện tích 7,39 m2 có trị giá: 1.395.878 đồng;

+ Cửa đi bằng ván gỗ de (không có khung), diện tích 2,94 m2 có trị giá: 1.975.680 đồng;

+ Gác lửng bằng gỗ, diện tích 36,48 m2, kích thước: 6,4m*5,9m có trị giá: 4.596.480 đồng;

+ Đà gác lửng bằng gỗ de, diện tích 1.00 m3, tiết diện: 0,12m*0,18m, dài: (6,4m*6m)+8m, có trị giá: 6.629.818 đồng;

+ Mái che: Cột BTCT, khung sườn bằng gỗ, lợp tôn màu, diện tích 93.00 m2, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 8.788.500 đồng;

+ Nền bê tông gạch vỡ, láng vữa xi măng, mác 75, diện tích 93.00 m3, kích thước: 12,4m*7,5m có trị giá: 2.343.600 đồng;

+ Cột cổng không mái: Móng xây đá hộc kết hợp BTCT, thân xây tap lô, trụ có lõi BTCT, trát vữa xi măng, không phào chỉ, quét vôi, diện tích 1.70 m3 có trị giá: 2.610.297 đồng;

+ Tường rào xây bằng tap lô 150, trát 2 mặt vữa xi măng mác 50, quét vôi, diện tích 3,36 m2 có trị giá: 350.330 đồng;

- Tài sản, vật dụng khác gồm:

+ 01 mặt bàn gỗ de, kích thước: 2,38m x 0,60m x 0,11m có trị giá: 1.350.000 đồng;

+ 01 phản gỗ dổi, kích thước: 1,73m x 3,3m x 0,11m có trị giá: 9.900.000 đồng;

+ 01 giá đỡ ti vi bằng gỗ, kích thước: 2,37m x 0,60m x 0,6m có trị giá: 900.000 đồng;

+ 01 khối gỗ tự nhiên hình trụ (gỗ chua), kích thước: đường kính 0,9m; cao 0,7m có trị giá 320.000 đồng;

+ 01 quạt tường Senko có trị giá 270.000 đồng;

+ 01 quạt cây Senko có trị giá 150.000 đồng;

+ 01 tủ lạnh Panasonic có trị giá 1.600.000 đồng;

+ 01 điều hòa Panasonic có trị giá 3.750.000 đồng;

+ 01 bộ máy giặt, sấy công nghiệp có trị giá 10.800.000 đồng;

+ 01 máy tiện gỗ có trị giá 2.600.000 đồng.

1.2. Về nợ:

Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả số tiền 319.450.000đồng (Trong đó tiền nợ gốc 300.000.000đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 23/7/2018 là 19.450.000đồng)

Cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện H - Phòng giao dịch xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (23/7/2018), chị Nguyễn Thị H tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 32214519/C/HĐTD ngày 18/8/2017.

Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 42961/C/HĐTC ngày 14/8/2017 cho đến khi chị Nguyễn Thị H thực hiện xong việc trả nợ.

1.3. Chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh Lê Hữu T số tiền 104.959.126đồng, tiền chênh lệch tài sản và 396.000.000đồng tiền chị Nguyễn Thị H tự nguyện hỗ trợ cho anh Lê Hữu T sau khi ly hôn.

Anh Lê Hữu T được quyền sở hữu số tiền 500.959.126đồng (năm trăm triệu, chín trăm năm mươi chín ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng) do chị Nguyễn Thị H giao.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0004134, ngày 02/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Nguyễn Thị H, anh Lê Hữu T phải nộp mỗi người 13.234.206đ tiền án phí dân sự có giá ngạch.

- Án phí phúc thẩm: Anh Lê Hữu T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/ 0004219 ngày 16/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm (tình cảm, nuôi con) không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về