Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 10/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử công khai vụ án thụ lý số 107/2018/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2018/QĐST- HNGĐ giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mai H; Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

+ Bị đơn: Anh Nguyễn Công Ph; Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/8/2018, bản tự khai ngày 21/9/2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Mai H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Công Ph chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985 và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 1990 chị được bố mẹ đẻ cho đất làm nhà ở tại thôn M, xã H và chung sống với nhau. Năm 1994 anh Ph nghĩ việc ở cơ quan và thường xuyên vào làm ăn sinh sống tại các tỉnh phía nam không có đóng góp gì về kinh tế cho gia đình cũng như nuôi dạy con cái. Mỗi khi trở về nhà thì mâu thuẩn vợ chồng thường xuyên xảy ra gay gắt, quan hệ tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2010 anh Ph về sống trong gia đình nhưng chúng tôi không còn quan hệ tình cảm gì với nhau; nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Công Ph.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 cháu tên là Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1985 và Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1990. Hiện nay cả hai cháu đều thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Công Ph trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng: Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 107/2018/TB-TA và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 108/2018/TB-TA quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng nhưng anh Ph vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì.

Tại phiên Tòa hôm nay, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh Ph; về con chung, tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa, đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình số:107/2018/TLST- HNGĐ ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H là đúng thẩm quyền, ra thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng thời hạn luật định. Công tác thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký là đúng theo trình tự thủ tục được quy định tại Điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự: Nguyên đơn chị H đã thực hiện đầy đủ thủ tục được quy định tại Điều 70,71; bị đơn anh Ph chưa thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Kiểm sát viên đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn anh Ph và đề nghị xử cho chị H được ly hôn anh Ph; Về con chung, tài sản chung: không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết tranh chấp về “ Ly hôn”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu giải quyết của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 107/2018/TB-TA và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 108/2018/TB-TA, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng nhưng anh Nguyễn Công Ph vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Vì vậy áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện H xử vắng mặt anh Nguyễn Công Ph.

[3]. Về nội dung vụ án: Năm 1985 cho đến nay chị Hồ Thị Mai H và anh Nguyễn Công Ph chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo Điều 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 quy định nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1987 có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Ph chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết vẫn được coi là hôn nhân hợp pháp.Trong quá trình chung sống với nhau thì nảy sinh ra nhiều mâu thuẩn mà không thể khắc phục được, không quan tâm nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc.

Tại biên bản xác minh ngày 07/9/2018 thì phía UBND xã H xác nhận: Chị Hồ Thị Mai H và anh Nguyễn Công Ph chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985 cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Hiện nay chị H và anh Ph có hai người con đã thành niên và có khả năng lao động.

Tại biên bản xác minh ngày 12/9/2018 thì về phía Hội liên hiệp phụ nữ xã H xác nhận: Chị H và anh Ph chung sống với nhau thường hay cải vả lẫn nhau, không quan hệ qua lại gì với nhau, chung sống với nhau không có tình cảm.

Vì vậy, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt nên yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Mai H là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[4]. Về con chung: Có 02 cháu tên là Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1985 và Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1990. Hiện nay cả hai cháu đều thành niên và có khả năng lao động, chị H không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5]. Tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Áp dụng Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Mai H được ly hôn anh Nguyễn Công Ph.

Về án phí: Buộc chị Hồ Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0006396 ngày 29/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

2. Chị Hồ Thị Mai H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Công Ph có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:10/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hải Lăng - Quảng Trị
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về