Bản án 10/2018/HS-ST ngày 02/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 10/2018/HS-ST NGÀY 02/02/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 04/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; giới tính: nam, sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân Phố Thá, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở: sống lang thang; nghề nghiệp: không; học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Tiến Dũng (chết) và bà Trần Thị Lượt, sinh năm 1955; chị: Trần Thị Hương, sinh năm 1972; con: Nguyễn Quốc Việt, sinh năm 1998; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 23/6/1994 Tòa án nhân dân Thị xã Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tổng hợp hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngày 21/12/1995 Tòa án nhân dân Thị xã Hà Nam xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tổng hợp hình phạt 24 tháng.

Tiền án:

Ngày 12/01/1996 Tòa án nhân dân Thị xã Hà Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt 9 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; và tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt chung là 24 tháng tù (chưa xóa án tích)

Ngày 19/6/1999 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 16 năm tù về tội “Cướp tài sản” (chưa xóa án).

Ngày 29/9/2014 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội: “Đánh bạc” (chưa xóa án).

Ngày 12/12/2014 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt cả hai bản án là 50 tháng tù. Đến ngày 07/12/2016 chấp hành xong hình phạt tù (chưa xóa án).

Tạm giữ, tạm giam: ngày 23/9/2017 tại Trại giam Chí Hòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: chị Trần Nguyễn Anh Thơ, sinh năm 1993; Nơi cư trú: xóm 4, Thôn 1, xã xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 22/9/2017 chị Nguyễn Trần Anh Thơ đang nằm trên giường 31, phòng số 6, toa số 8 tàu SE7 (lưu thông từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh) và có để túi xách bên cạnh. Lúc này, Nguyễn Văn T đang ở trên tàu SE7, khi đi ngang qua phòng số 6 nhìn thấy túi xách nên lén lút đi vào lấy trộm túi xách của chị Thơ rồi đi ra ngoài. Chị Thơ phát hiện và nói anh Nguyễn Thành Nam đang nằm cùng phòng đuổi theo T đến phòng vệ sinh toa số 7 bắt được T và phát hiện túi xách của chị Thơ trong phòng vệ sinh. Anh nam đã báo cho chị Lê Thị Thu Thủy, anh Chu Văn Hà và anh Mai Xuân Phương (là nhân viên đoàn tàu SE7) thu giữ vật chứng (túi xách) và đưa T về phòng chỉ huy lập biên bản kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn T. Qua kiểm tra, thu giữ được số tiền là 5.017.500 đồng (gồm 10 tờ 500.000 đồng, 02 tờ 50.000 đồng, 02 tồ 2.000 đồng, 03 tờ 1.000 đồng, 01 tờ 500 đồng), trong túiquần sau bên phải của T. Đoàn tiếp viên trên tàu SE7 đã lập biên bản thu giữ vật chứng và chuyển cho Công an Phường 9, Quận 3 hồ sơ chuyển cơ quan cảnh sátđiều tra – Công an Quận 3 xử lý. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận3, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

Số tiền 5.017.500 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 đã trả cho chị Nguyễn Trần Anh Thơ.

Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Trần Anh Thơ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 29/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố với bị cáo: Nguyễn Văn T, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quyđịnh tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 trình bày lời luận tội và đề nghị:

Bị cáo Nguyễn Văn T vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ bổ sung năm 2009, đề nghị mức hình phạt đối với bịcáo T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T lợi dụng chị Nguyễn Trần Anh Thơ đang nằm trên giường 31, phòng số 6, tòa số 8, tàu SE7 có để túi xách bên cạnh đã lén lút đi vào lấy trộm túi xách của chị Thơ bên trong có số tiền 5.017.500 đồng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo là rất xấu, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội phạm sở hữu (chưa xóa án tích) nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm g, p khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Trần Anh Thơ đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ nêu trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày: 23/9/2017.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/HS-ST ngày 02/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:10/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 3 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về