Bản án 10/2019/DS-ST ngày 01/04/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 10/2019/DS-ST NGÀY 01/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2017/TLST-DS ngày 19/6/2017, “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Mỹ H - Sinh năm: 1985.

Địa chỉ: ấp LK A, xã LH, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của Trần Thị Mỹ H là:

Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1984.

Địa chỉ: khóm BT2, tt LV, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 10/5/2017). (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Lê Thị Mỹ P - Sinh năm: 1962. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: K1, tt LV, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 26/5/2017 (Bổ sung ngày 15/6/2017); Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 19/3/2016 Lê Thị Mỹ P tự tay ký tên, viết họ tên vào biên nhận để vay của Trần Thị Mỹ H vốn 40.000.000 đồng, lãi không thỏa thuận, thời hạn đến ngày 19/8/2016, nhưng không thực hiện. Do đó Trần Thị Mỹ H yêu cầu Lê Thị Mỹ P trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 40.000.000 đồng, lãi 4.500.000 đồng. Cộng chung vốn, lãi là 44.500.000 đồng.

- Trong biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 14/7/2017 bị đơn Lê Thị Mỹ P trình bày:

Lê Thị Mỹ P không có ký tên, viết họ tên vào biên nhận để vay của Trần Thị Mỹ H vốn 40.000.000 đồng, mà Lê Thị Mỹ P chỉ ký tên, viết họ tên để mượn của Trần Thị Mỹ H vốn 4.000.000 đồng không có thỏa thuận lãi và thời hạn, có thỏa thuận bằng lời nói lãi 20.000 đồng/ngày, rồi vốn cộng lãi thành vốn 6.000.000 đồng, đã trả vốn 4.500.000 đồng, lãi chưa trả. Do đó, Lê Thị Mỹ P tự nguyện có nghĩa vụ trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 1.500.000 đồng, lãi 2.000.000 đồng. Cộng chung vốn, lãi là 3.500.000 đồng.

- Phát biểu của Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên đối với bị đơn không thực hiện đúng theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án và Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Nên Kiểm sát viên đề nghị bị đơn và Thẩm phán cần lưu ý nhằm đảm bảo cho việc chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và để góp phần cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật, đồng thời Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Trần Thị Mỹ H yêu cầu Lê Thị Mỹ P trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 40.000.000 đồng, lãi 4.500.000 đồng. Cộng cung vốn, lãi là 44.500.000 đồng.

Yêu cầu này của Trần Thị Mỹ H không được Lê Thị Mỹ P chấp nhận, vì Lê Thị Mỹ P cho rằng Lê Thị Mỹ P chỉ ký tên, viết họ tên để mượn của Trần Thị Mỹ H vốn 4.000.000 đồng, không có thỏa thuận lãi và thời hạn, có thỏa thuận bằng lời nói lãi 20.000 đồng/ngày, rồi vốn cộng lãi thành vốn 6.000.000 đồng, đã trả vốn 4.500.000 đồng, lãi chưa trả, nên Lê Thị Mỹ P chỉ đồng ý trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 1.500.000 đồng, lãi 2.000.000 đồng. Cộng chung vốn, lãi là 3.500.000 đồng. Lời trình bày của Lê Thị Mỹ P không được Trần Thị Mỹ H thừa nhận, nhưng Lê Thị Mỹ P không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác có giá trị pháp lý để chứng minh cho sự phản đối của mình là có căn cứ và hợp pháp. Ngược lại, kèm theo yêu cầu của mình Trần Thị Mỹ H đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đó là biên nhận ngày 19/3/2016 và Trần Thị Mỹ H yêu cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp giám định chữ ký tên, chữ viết họ tên trong biên nhận ngày 19/3/2016 có phải do Lê Thị Mỹ P tự tay ký tên, viết họ tên hay không. Tại kết luận giám định số: 889/KL-KTHS ngày 17/12/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: “1. Chữ viết có nội dung “Lê Thị Mỹ P” ở vị trí “Tôi tên” và dưới mục “Người mượn”; Chữ viết có nội dung “Khóm I” ở vị trí “Hiện ngụ Ấp” và tài liệu cần giám định ký hiệu M1, M2, từ M4 đến M15 do cùng một người viết ra. 2. Chữ ký tên Lê Thị Mỹ P dưới mục “Người mượn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Lê Thị Mỹ P trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M15 do cùng một người ký ra”. Do đó, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần buộc Lê Thị Mỹ P trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 40.000.000 đồng, lãi 4.500.000 đồng là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự.

Tại Điều 463 Bộ luật dân sự có ghi:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định”.

[2] Toàn bộ yêu cầu của Trần Thị Mỹ H được Tòa án chấp nhận, nên Lê Thị Mỹ P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và kết quả giám định chứng minh yêu cầu của Trần Thị Mỹ H là có căn cứ, nên Lê Thị Mỹ P phải chịu toàn bộ chi phí giám định.

[3] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 161, khoản 1 Điều 162 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. 

Tuyên xử:

1. Buộc Lê Thị Mỹ P trả cho Trần Thị Mỹ H vốn vay 40.000.000 đồng, lãi 4.500.000 đồng. Cộng chung vốn, lãi là 44.500.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Trần Thị Mỹ H mà Lê Thị Mỹ P chậm trả 44.500.000 đồng thì hàng tháng Lê Thị Mỹ P còn phải trả cho Trần Thị Mỹ H thêm phần lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả nợ cho đến khi trả xong.

3. Án phí, tạm ứng án phí và chi phí giám định, tạm ứng chi phí giám định:

3.1. Lê Thị Mỹ P phải chịu 2.225.000 đồng (Hai triệu, hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Lê Thị Mỹ P chưa nộp).

3.2. Hoàn trả lại cho Trần Thị Mỹ H 402.500 đồng (Bốn trăm lẻ hai nghìn, năm trăm đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 15203, ngày 19/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3.3. Buộc Lê Thị Mỹ P hoàn trả cho Trần Thị Mỹ H 2.835.000 đồng (Hai triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) chi phí giám định.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/4/2019). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa ngày 01/4/2019 thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/DS-ST ngày 01/04/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:10/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lai Vung - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về