Bản án 10/2019/DS-ST ngày 30/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG - TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 10/2019/DS-ST NGÀY 30/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Tổng giám đốc

Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower số 109 T, phường C, quận H - TP. Hà Nội.

Người được ủy quyền: Ông Lê Tiến D - Giám đốc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Thanh Hóa. Theo Quyết định ủy quyền số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017.

Người được ủy quyền lại: Bà Lê Thị H1 - Trưởng phòng hỗ trợ hoạt động (có mặt). Theo Quyết định ủy quyền số 76/2019/QĐ-LienVietPostBank-CNTH ngày 30/7/2019.

Địa chỉ: Số 33 P, phường Đ, thành phố Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H2, xã G, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trường THCS Trường Giang, huyện Nông Cống.

Người đại diện: Ông Đỗ Văn T1- Hiệu trưởng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 22/4/2019 và quá trình giải quyết, xét xử, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/12/2016 chị Nguyễn Thị H1 đã ký hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 09/0612.16/04/421 với ngân hàng B - Chi nhánh Thanh Hóa vay số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng chẵn), phương thức vay từng lần, mục đích vay sửa nhà, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất được tính trên cơ sở một năm có 360 ngày. Phương thức trả nợ: Gốc, lãi trả hàng tháng. Tại thời điểm khởi kiện chị H1đã trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng chẵn). Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, chị H1 thường xuyên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại các khoản 4.1 và 4.2 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 09/0612.16/04/421 ngày 06/12/2016. Kể từ tháng 5/2018 chị H đã không trả được nợ theo các thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị H1 đã trốn tránh làm việc với Ngân hàng. Vì vậy, theo khoản 7.1 Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 09/061216/04/421, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt có quyền chấm dứt việc cho vay và thu hồi toàn bộ vốn vay trước hạn.

Ngân hàng TMCP Bt yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 thanh toán toàn bộ số nợ tính đến ngày 30/9/2019 là 55.610.878đ, trong đó nợ gốc 44.000.000đ, lãi trong hạn 9.485.973đ, lãi quá hạn 2.124.905đ.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H1: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 16/2019/TB-TLVA ngày 02/5/2019 và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng chị H1 không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã giao các văn bản trên cho ông Nguyễn Trung T2 (bố đẻ chị H1), đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng tại UBND xã G, huyện N. Ông T2 cam kết sẽ thông báo ngay cho chị H1. Chị H1 biết việc Tòa án đã thụ lý vụ án nhưng trong thời hạn luật định chị không nộp văn bản nêu ý kiến của mình, cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập. Vì vậy, Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình ông Nguyễn Trung T2 ở thôn H2, xã G, huyện N. Ông T2 cho biết: Chị H1 đang làm ăn trong Nam, địa chỉ cụ thể ông không biết nhưng chị thường xuyên liên lạc về cho ông. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, ông đã thông báo ngay cho chị H1 biết. Chị H1 đã trao đổi lại với ông như sau: Chị thừa nhận có vay của Ngân hàng TMCP B như trong hợp đồng tín dụng nhưng do điều kiện khó khăn chị chưa có để trả cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị trả nợ, chị đồng ý trả nợ cho Ngân hàng và đề nghị Tòa giải quyết, xét xử vắng chị.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị Tòa án buộc chị H1 phải trả hết số tiền nợ cho Ngân hàng TMCP B.

Tại phiên tòa đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, HĐXX đã chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS. Đối với nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Đối với chị H1 không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình xây dựng hồ sơ và không có mặt tại phiên tòa, không có lý do chính đáng. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng chị vẫn vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị H1 theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc chị H1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền 55.610.878đ. Lãi xuất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Về án phí: Chị H1 phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Nông Cống nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 đã được Tòa án nhân dân huyện Nông Cống triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H1.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Xác định đây là tranh chấp về hợp đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Nông Cống theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 BLTTDS. Giao dịch dân sự do các bên xác lập tháng 12/2016, vì vậy áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2019 là 55.610.878đ, trong đó nợ gốc 44.000.000đ, lãi trong hạn 9.485.973đ, lãi quá hạn 2.124.905đ. HĐXX xét thấy ngày 06/12/2016 giữa Ngân hàng TMCP B và chị Nguyễn Thị H1 đã ký hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 09/061216/04/421 và Ngân hàng đã cho chị H1 vay 60.000.000đ, phương thức vay từng lần, mục đích vay sửa nhà, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất được tính trên cơ sở một năm có 360 ngày. Phương thức trả nợ: Gốc, lãi trả hàng tháng. Như vậy, hợp đồng vay vốn trên thuộc dạng hợp đồng vay tài sản và đã được ký kết theo quy định của BLDS và Luật các tổ chức tín dụng. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, từ tháng 5/2018 chị H1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Chị H1 cũng đồng ý trả nợ nhưng do điều kiện khó khăn nên chị chưa có để trả cho Ngân Ngân hàng.

Từ nhận định trên HĐXX thấy rằng Ngân hàng TMCP B yêu cầu chị H1 phải thanh toán số tiền tính đến ngày 30/9/2019 là 55.610.878đ, trong đó nợ gốc 44.000.000đ, lãi trong hạn 9.485.973đ, lãi quá hạn 2.124.905đ là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Chị H1 không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải nộp tiền án phí DSST theo quy định của pháp luật. Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS; Điều 463, 466 BLDS năm 2015; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

2. Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Thanh Hóa. Buộc chị Nguyễn Thị H1 phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Thanh Hóa số tiền là 55.610.878đ, trong đó nợ gốc 44.000.000đ, lãi trong hạn 9.485.973đ, lãi quá hạn 2.124.905đ.

Kể từ ngày 01/10/2019 ngày Ngân hàng TMCP B chốt số nợ, chị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số 09/061216/04/421 ngày 06/12/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H1 phải nộp 2.780.000đ tiền án phí DSST. Trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí 1.250.000đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống theo biên lai thu số AA/2017/0001925 ngày 22/4/2019.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/DS-ST ngày 30/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:10/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nông Cống - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về