Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 10/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2019/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: BàNguyễn Thị H, sinh năm 1982.

2. Bị đơn: Ông Trần Xuân Ch, sinh năm 1973.

Cùng địa chỉ: 448, tổ 8, ấp H, xã Ph, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (bà H cómặt, ông H xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/01/2019, quá trình tham gia tố tụng và tạiphiên tòa nguyên đơn bàNguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Xuân Ch sống chung với nhau vào năm 2000, đến năm 2005 hai người mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do không phù hợp về tính cách và quan điểm sống nên haingười hay cãi nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh Th và Trần Minh T đều sinh ngày 17/8/2000, hai cháu đã thành niên có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Quá trình tố tụng ông Trần Xuân Ch trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và nơi kết hôn đúng như bà H trình bày. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2015 bà H đã có ý định ly hôn nhưng ông không đồng ý. Từ đầu năm 2019 đến nay bà H nghi ngờ ông có quan hệ với người phụ nữ khác nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, thường xuyên cãi nhau nên bà H đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông cũng đồng ý nhưng ông là người theo đạo nên không thể ký tên vào biên bản thuận tình ly hôn được, ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Về con chung như bà H đã trình bày hiện các cháu đã thành niên có khả năng lao động.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn

Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Xuân Ch

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Ông Trần Xuân Ch có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông H.

 [2] Về quan hệ hôn nhân: BàNguyễn Thị H và ông Trần Xuân Ch sống chung với nhau vào năm 2000, đến năm 2005 hai người mới đăng ký kết hôn tại xã Ph, huyện L, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

 Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H là phù hợp.

 [3] Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh Th và Trần Minh T sinh cùng ngày 17/8/2000, hiện anh Th và anh T đã thành niên có khả năng lao động nên không đặt ra để giải quyết.

 [4] Tài sản chung và nợ chung: Theo các đương sự trình bày tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

 [5] Án phí dân sự sơ thẩm bà H phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, 228, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bàNguyễn Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: BàNguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Xuân Ch.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra để giải quyết.

3. Án phí dân sự sơ thẩm bàNguyễn Thị H phải chịu là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp tại biên lai số 001230 ngày 06/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

4. Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:10/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về