Bản án 10/2019/HS-ST ngày 01/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 10/2019/HS-STNGÀY 01/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Hôm nay ngày 01 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2019/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/HSST-QĐ ngày 21 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Mai Thị Ngọc T (tên gọi khác: Kim T, Chung Thị H), sinh năm 1989. Tại Trà Vinh.

Hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Chỗ ở: ấp 1B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 4/12.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc Tịch: Việt Nam. Giới tính: Nữ. Con ông Mai TY và bà Châu Thị S. Gia đình có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình.

Sống như vợ chồng với anh Giang Thành T (không đăng ký kết hôn). Có 01 con, sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bản án số 598/2015/HSST.

Bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 18/12/2018. (bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ ngày 18/12/2018, Công an huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai phối hợp với Công an xã T kiểm tra phòng trọ số 01 do Mai Thị Ngọc T thuê tại ấp B, xã T, huyện T phát hiện trên kệ bếp của phòng trọ có 09 túi nylon được hàn kín hai đầu bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Mai Thị Ngọc T là người nghiện ma túy từ năm 2014, trung bình khoảng từ 02 đến 03 ngày T sử dụng ma túy một lần, nguồn gốc ma túy T mua của một người đàn ông ở khu vực quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Lúc 17 giờ ngày 17/12/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 60S5 – 5004 đến khu vực cầu vượt ngã tư S thuộc quận A, thành phố Hồ Chí Minh gặp một chất ma túyngười đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá với giá 1.500.000đồng, người này đồng ý. Sau đó, người đàn ông này gọi điện thoại cho người khác và kêu T đứng đợi khi nào thấy xe ô tô loại 04 chỗ tới thì đi đến lấy ma túy và đưa tiền. Khoảng 15 phút sau, có một xe ô tô loại 04 chỗ (không rõ loại xe và biển số) đến, T đi đến đưa 1.500.000đồng và người ngồi trong xe đưa cho T 02 gói ma túy. Sau khi mua xong T mang về phòng trọ phân ra 10 túi nhỏ, T sử dụng 01 túi còn lại 09 túi cất giấu trên kệ bếp để sử dụng dần thì bị bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 61/PC09-GĐMT ngày 24/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,3075gam loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô biển số 60S5 – 5004 do bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội.

 544/PC09-GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, sau khi giám định có khối lượng 1,2325gam.

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSLT ngày 15/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Mai Thị Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn bảo lưu quan điểm truy tố đối với bị cáo T tại Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSLT ngày 15/01/2019. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo Mai Thị Ngọc T mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù.

Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 61/PC09-GĐMT ngày 24/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai để tiêu hủy.

Lời nói sau cùng: Bị cáo T không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2]. Bị cáo Mai Thị Ngọc T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định.

Khoảng 17 giờ ngày 17/12/2018, bị cáo Mai Thị Ngọc T có hành vi mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) ở khu vực ngã tư S thuộc quận A, thành phố Hồ Chí Minh 02 túi ma túy với giá 1.500.000đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) sau đó mang về phòng trọ của bị cáo phân ra làm 10 túi nhỏ, bị cáo T sử dụng hết 01 túi còn lại 09 túi cất giấu trên kệ bếp trong phòng trọ của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng cho bảnthân thì bị Công an  bắt quả tang. Vật chứng thu giữ khi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3075gam loại Methamphetamine.định.

 Tại phiên tòa bị cáo Mai Thị Ngọc T không thắc mắc gì đối với kết luật giám

Hành vi trên của bị cáo Mai Thị Ngọc T đã cấu thành tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟ theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng truy tố của

Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng có xem xét cho bị cáo T quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3]. Xử lý vật chứ ng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 61/PC09-GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma túy có khối lượng 1,2325gam (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành

đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành ngày 15/01/2019).

- 01 xe mô tô biển số 60S5 – 5004, do bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội, hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LongThành đang tiếp tục làm rõ  xác minh và xử lý sau.

 [4]. Đối với những người đã bán ma túy cho bị cáo T khu vực cầu vượt Ngã tư S thuộc quận A, thành phố Hồ Chí Minh hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

 [5]. Bị cáo Mai Thị Ngọc T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Mai Thị Ngọc T (tên gọi khác: Kim T, Chung Thị H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Mai Thị Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/12/2018.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 61/PC09-GĐMT ngày 24/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Thị Ngọc T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HS-ST ngày 01/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:10/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về