Bản án 102/2019/HNGĐ-ST ngày 27/03/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 102/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/03/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 27 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lệ S, sinh năm: 1971 (có mặt). Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1966 (Vắng mặt). Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai cùng ngày 27/8/2018, và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Lệ S trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn V kết hôn vào năm 1987, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V không chung thủy, thường đánh bà vô cớ, vì con nên bà chịu đựng khoảng thời gian dài, bà có khuyên can nhưng ông V vẫn không thay đổi, vợ chồng thường cự cãi với nhau nên cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ năm 2012 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm với nhau.

Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

Về con chung: Có 5 con chung là Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1988, Nguyễn Minh D, sinh năm 1988, Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1991, Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992 và Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1997. Hiện các con đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Văn V là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn V.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Lệ S và ông Nguyễn Văn V kết hôn vào năm 1987, hôn nhân tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Do vậy, hôn nhân của ông, bà được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà S và ông V chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhâu mâu thuẫn theo bà S trình bày là do ông V không chung thủy, thường đánh bà vô cớ, vì con nên bà chịu đựng khoảng thời gian dài, bà có khuyên can nhưng ông V vẫn không thay đổi, vợ chồng thường cự cãi với nhau nên cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Về phía ông V qua 2 lần Tòa án mời đến để hòa giải, nhưng phía ông V đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.

Xét thấy, suốt thời gian ly thân hai bên không có thiện chí hàn gắn quan hệ tình cảm, qua xác minh mâu thuẫn khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa hôm nay bà S cương quyết xin được ly hôn. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Có 5 con chung là Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1988, Nguyễn Minh D, sinh năm 1988, Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1991, Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992 và Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1997. Hiện các con đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà Nguyễn Lệ S phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Lệ S. Bà Nguyễn Lệ S được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

- Về con chung: Có 5 con chung là Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1988, Nguyễn Minh D, sinh năm 1988, Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1991, Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992 và Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1997. Hiện các con đã trưởng thành.

- Về án phí: Bà Nguyễn Lệ S phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008747 ngày 03/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Lệ S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/3/2019). Ông Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 102/2019/HNGĐ-ST ngày 27/03/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:102/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về