Bản án 103/2018/HSPT ngày 23/05/2018 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 103/2018/HSPT NGÀY 23/05/2018 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 23/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/HSPT ngày 04 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Lê Thiều H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HSST ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Lê Thiều H - sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số nhà 29, tổ 10 B.S, phường A.H, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; trước khi phạm tội bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; Con ông Lê Thiều B (đã chết) và bà Hoàng Thị L; Có vợ Phan Thị H.T; Có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2017 đến 13/01/2018. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 00h15’ ngày 16/10/2017, tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra tại Khách sạn P.H, ở thôn 2, phường Q.H, thành phố Thanh Hóa đã phát hiện và bắt quả tang 03 đôi nam nữ mua bán dâm tại các phòng 301, 303 và 305 của khách sạn P.H do Lê Thiều H là người môi giới.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa đã xác định rõ Lê Thiều H là nhân viên quản lý khu Massage và Karaoke của khách sạn P.H. H được giao nhiệm vụ quản lý và điều hành khu Massage và karaoke. Khoảng 21 giờ 30’ ngày 15/10/2017 khi H đang làm việc tại khách sạn thì có Nguyễn Quang M, sinh năm 1978, ở xã Ch.H, Huyện M.C, Sơn La; Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, ở Xã H.L, Huyện Như Thanh, Thanh Hóa; Trịnh Văn H, sinh năm 1972, ở khu 4, khu tái định cư T.T, huyện T.T, tỉnh Thái Bình vào khu giải trí khách sạn P.H để hát Karaoke. Khi gặp Lê Thiều H thì M, D và Trịnh Văn H đề nghị xếp phòng hát và gọi cho 03 nhân viên phục vụ để hát cùng, hát xong đi vui vẻ (tức mua bán dâm). Lê Thiều H đồng ý và vào phòng chờ ở khu massage của khách sạn gọi Huỳnh Thị K, sinh năm 1995, ở Ấp 6, xã H.M, Huyện P.H, tỉnh Hậu Giang (tên thường gọi là T); Trần Thị B.N, sinh năm 1989, ở Ấp A.H, xã A.M.B, Huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (tên thường gọi là N); Phàn Phàn M, sinh năm 1988, ở L.H, V.X, Hà Giang (tên thường gọi là L) đều là nhân viên phục vụ khu Karaoke và Massage của khách sạn. Hát đến khoảng 23 giờ 40 thì M, D và Trịnh Văn H không hát nữa và gọi cho Lê Thiều H đến để thanh toán tiền hát, H thanh toán số tiền là 2.388.000đ trong đó số tiền hát là 1.338.000đ, số tiền này H nộp vào quầy thu ngân của khách sạn, còn lại 1.050.000 là tiền công của nhân viên hát cùng khách, số tiền Lê Thiều H đã giữ lại để thanh toán cho Nguyễn Thị T.G (là người quản lý nhân viên massage và phòng hát) để G thanh toán lại cho nhân viên.

Sau đó M, D và Trinh Văn H đặt vấn đề mua dâm với số nhân viên vừa hát cùng. H đồng ý và nói giá mỗi lần quan hệ tình dục với nhân viên là 1.800.000đ, trong đó tiền phải mua 01 vé massage là 250.000đ, tiền thuê phòng là 300.000đ, số tiền còn lại là tiền trả cho gái mại dâm. Cả ba khách đều đồng ý sau đó mỗi người lấy ra 2.000.000đ (hai triệu đồng), D và M đưa cho Trịnh Văn H để đưa cho Lê Thiều H và nói “số tiền thừa 200.000đ cho các gái bán dâm sau khi quan hệ xong”, H cầm cả 6.000.000đ bỏ vào túi áo, Trịnh Văn H cho thêm Lê Thiều H 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) nói là tiền boa thêm, tổng cộng là 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

H lấy tiền xong rồi nói với Trần Thị B.N, Phàn Phàn M và Huỳnh Tri K đi tiếp khách quen (tức bán dâm) và thỏa thuận sau khi quan hệ tình dục với khách xong Lê Thiều H sẽ thanh toán cho B.N, M và K mỗi người là 1.200.000đ (tiền bám dâm là 1.000.000, tiền của khách cho thêm sau khi bán dâm là 200.000đ). Thấy B.N, M và K đồng ý H gọi nhân viên tên Nguyễn Văn Đ, SN 1985, HKTT: C.H 1, phường Đ.H, TP Thanh Hóa (là nhân viên ký hợp đồng với khách sạn, do H quản lý) lên lễ tân khu lưu trú lấy 03 phòng, Đ đi một lúc rồi cầm về đưa cho H 03 chìa khóa các phòng 301, 303, 305 của khách sạn. Lê Thiều H đưa chìa khóa cho Trịnh Văn H cùng M lên phòng 301, D cùng B.N lên phòng 303, M cùng K lên phòng 305 của khách sạn.

Sau khi thu tiền của anh D, anh M và Trịnh Văn H, bị cáo H quay xuống khu massage mua 03 vé, mỗi vé 250.000đ hết 750.000đ (khi nhân viên lên phòng bán dâm cho khách phải mua vé massage xem như đang phục vụ massage cho khách tại phòng). Bị cáo chưa thanh toán tiền phòng và tiền cho các gái bán dâm theo thỏa thuận thì đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 16/10/2017 thì tổ tuần tra phòng PC45 vào kiểm tra và bắt quả tang B.N, M và K, đang có hành vi mua bán dâm cho Trịnh Văn H, Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang M lần lượt tại các phòng 301, 303, 305 của khách sạn.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HS-ST ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa đã quyết định: Căn cứ điểm e khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 4 Điều 30; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội; điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thiều H phạm tội “Môi giới mại dâm”. Xử phạt: Lê Thiều H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 02 tháng 27 ngày (từ ngày 16/10/2017 đến ngày 13/01/2018).

Phạt Lê Thiều H 5.000.000đ, nộp một lần vào ngân sách Nhà nước. Truy thu của bị cáo số tiền 900.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.

Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án và án phí sơ thẩm.

* Ngày 12/3/2018, bị cáo Lê Thiều H làm đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo cải tạo tại địa phương vì điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn.

* Tại phiên tòa: - Bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo về đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Tại giai đoạn phúc thẩm, Phòng PC 47 - CA tỉnh Thanh Hóa có công văn ngày 07/5/2018 đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt vì trong thời gian tại ngoại bị cáo đã có công lớn giúp Cơ quan Điều tra phá chuyên án 318V vào 20h giờ ngày 28/3/2018 bắt đối tượng Nguyễn Tiến V cầm đầu đường dây lớn mua bán ma túy liên tỉnh. Bị cáo đã tự nguyện nộp đủ tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính và tiền án phí sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo con duy nhất đang phải nuôi mẹ già bệnh tật, hai con nhỏ đang ăn học, vợ ốm yếu không có việc làm. Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên các nội dung kháng cáo nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm

[2]. Xét nội dung kháng cáo: Bị cáo Lê Thiều H là người làm thuê và được phân công quản lý bộ phận giải trí của dịch vụ massage và karaoke của khách sạn P.H. Do hám lời nên khi có khách đưa ra yêu cầu mua dâm, H đã đưa ra giá cả của mỗi lần bán dâm. Khoảng 00h ngày 16/10/2017 H đã thuê phòng của khách sạn để Trịnh Văn H, Nguyễn Quang M và Nguyễn Văn D là khách mua bán dâm với gái mại dâm tại các phòng 301, 303 và 305 của khách sạn P.H và thu của ba người mua dâm số tiền 6.000.000đ. Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 16/10/2017 thì tổ tuần tra phòng PC45 - Công an tỉnh Thanh Hóa kiểm tra và bắt quả tang B.N, Phàn Phàn M và Huỳnh Tri K đang có hành vi mua bán dâm cho cho các đối tượng trên tại các phòng 301, 303, 305 của khách sạn.

Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm e khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới, đó là: Trong thời gian tại ngoại bị cáo đã có công giúp Cơ quan Điều tra phá chuyên án 318V vào 20h giờ ngày 28/3/2018 bắt đối tượng Nguyễn Tiến V cầm đầu đường dây mua bán ma túy lớn liên tỉnh đã được Ban chuyên án đánh giá cao. Vì vậy Phòng PC47- CA tỉnh Thanh Hóa có công văn ngày 07/5/2108 đề nghị Tòa án xem xét chính sách với người có công trong việc phòng, chống tội phạm. Ngoài ra bị cáo đã tự nguyện nộp đủ tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính và tiền án phí sơ thẩm. Gia đình bị cáo hoàn cảnh éo le, bị cáo con duy nhất đang phải nuôi mẹ già bệnh tật, hai con nhỏ đang ăn học, vợ ốm yếu không có việc làm. Bản thân sau khi phạm tội có sự ăn năn hối cải nên đã tích cực tham gia nhiều phong trào từ thiện, phong trào bảo vệ an ninh trật tự ở địa phương (có xác nhận của chính quyền địa phương).

Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo điểm q khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, có nơi cư trú rõ ràng, chưa tiền án tiền sự, bản thân chỉ là người làm thuê tại khách sạn, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn dẫn đến phạm tội nên chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo cải tạo tại địa phương thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người lầm lỗi nhưng biết ăn năn hối cải.

[3]. Về tiền phạt bổ sung, tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm: Mặc dù bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nhưng tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000đ tiền phạt, 900.000đ tiền truy thu sung quỹ Nhà nước và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được chấp nhận để trừ vào các khoản tiền phải nộp theo quyết định của Bản án sơ thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị

[4]. Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thiều H, sửa Bản án án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HS-ST ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa về biện pháp chấp hành hình phạt.

* Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 255; điểm p, q khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 328; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội; điểm h khoản 2 Điều 23 nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

* Xử phạt: Bị cáo Lê Thiều H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường An Hoạch, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Về tiền phạt bổ sung, tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm:

Công nhận bị cáo đã nộp đủ 5.000.000đ tiền phạt bổ sung, 900.000đ tiền truy thu sung quỹ Nhà nước và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm (Phiếu thu số 960 ngày 12/3/2018 của Chi cục THA Dân sự TP Thanh Hóa).

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

* Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải án phí hình sự phúc thẩm. 

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về