Bản án 103/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 103/2019/HS-ST NGÀY 08/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2019/TLST-HS ngày 13/9/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2019/QĐXXST-HS ngày 26/9/2019 đối với bị cáo:

Lý Văn M, sinh ngày 20/12/1999 tại huyện S, Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Cao Lan; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; bố đẻ: Lý Văn Đ, sinh năm 1978; mẹ đẻ: Âu Thị P, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1998.

Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lục Văn T, sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ ngày 03/01/2019, Lý Văn M một mình đến nhà Hoàng Văn Đ tại thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để chơi. Khi đến nơi M quan sát thấy Đ đang nằm ngủ trên giường tại phòng khách, bênh cạnh Đ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, vỏ màu đỏ ánh dương của Đ. Lúc này, M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, M dùng tay trái lấy chiếc điện thoại của Đ cất vào túi quần ph a trước bên trái đang mặc rồi đi thẳng về nhà, trên đường đi về M tháo sim điện thoại vứt ở ven đường.

Khong 10 giờ cùng ngày M lấy chiếc điện thoại trên đi đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại T Fone của anh Lục Văn T tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và bán cho T chiếc điện thoại OPPO F9 với giá 4.000.000 đồng (khi mua điện thoại anh T không biết đó là tài sản do M trộm cắp mà có). Số tiền trên M đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 04/01/2019 anh T đã bán chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lý Văn M bỏ trốn tại huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, đến ngày 01/8/2019, M bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương.

Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 21/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị chiếc điện thoại OPPO F9 vỏ màu đỏ ánh dương tính đến thời điểm trộm cắp là 5.949.176 đồng; sim điện thoại di động tại thời điểm trộm cắp trị giá 45.833 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.995.000 đồng (Năm triệu chín trăm chín mươi năm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Văn Đ yêu cầu bị cáo Lý Văn M bồi thường số tiền 5.995.000 đồng như kết luận định giá tài sản.

Từ nội dung trên, Cáo trạng số 106/CT-VKSND ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố bị cáo Lý Văn M về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Lý Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Lý Văn M từ 07 (bảy) tháng đến 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2019.

- Về phần dân sự áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại, bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.995.000 đồng (Năm triệu chín trăm chín mươi năm nghìn đồng).

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phía hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản, bị cáo nhất tr với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Kết luận định giá tài sản, biên bản sự việc, biên bản xác minh hiện trường,và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 03/01/2019, tại gia đình anh Hoàng Văn Đ thuộc thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Lý Văn M có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 (bên trong có 01 sim điện thoại) trị giá 5.995.000 đồng (Năm triệu chín trăm chín mươi năm nghìn đồng) của anh Đ.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3] Về t nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[4] Về mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với mục đ ch vụ lợi. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.995.000 đồng (Năm triệu chín trăm chín mươi năm nghìn đồng). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lục Văn T không có đề nghị gì về phần dân sự.

[6] Về án phía và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phía hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.

*Xử phạt: Bị cáo Lý Văn M 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2019.

* Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589, 468 của Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.995.000 đồng (Năm triệu chín trăm chín mươi năm nghìn đồng).

Khoản tiền phải trả kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chậm trả thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Bị cáo Lý Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phía hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phía dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: n cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:103/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sơn Dương - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về