Bản án 104/2018/HNGĐ-ST ngày 12/03/2018 về ly hôn giữa chị H và anh H

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 104/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/03/2018 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ H VÀ ANH H

Ngày 12 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 524/2017/TLST-HNGĐ ngày 24-11-2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30-01-2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Nhật H, sinh năm 1975

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 6/2/165 đường TNT, phường NT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

Cư trú tại: Số 34A đường ĐST, KĐT HV, phường LV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H (tức T), sinh năm 1971

Cư trú tại: Số 6/2/165 đường TNT, phường NT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa hôm nay: Chị H có mặt, anh H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 21-11-2017, lời khai ngày 30-11-2017, nguyên đơn là chị Phan Thị Nhật H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H (tức T) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07-11-1995 tại Ủy ban nhân dân phường NT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống bình thường đến năm 2000 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, thường xuyên vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án. Từ năm 2002 cho đến nay, vợ chồng chị sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh H. Thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh H đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Trần Thị Phương T, sinh ngày 08-3-1996. Cháu T đã trưởng thành, tự lập nên về con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh H phải chấp hành án phạt tù nên chị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

Tại bản tự khai ngày 21-12-2017, bị đơn là anh Trần Văn H (tức T) trình bày:

Do anh đang chấp hành án phạt tù nên chưa thuận tình ly hôn. Ngoài ra, anh H không trình bày gì thêm.

Tại biên bản xác minh ngày 16-01-2018 của Tòa án nhân dân thành phố NĐ tại nơi cư trú của chị H và anh H (tức T) thì địa phương cung cấp như sau: Chị H và anh H chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do anh H (tức T) nghiện ma túy, thường xuyên vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ phát biểu ý kiến về:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử ly hôn giữa chị Phan Thị Nhật H và anh Trần Văn H (tức T).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Trần Văn H (tức T) không tham gia phiên tòa. Tòa án xét xử vắng mặt anh Trần Văn H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Nhật H và anh Trần Văn H (tức T) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07-11-1995 tại Ủy ban nhân dân phường NT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị H và anh H (tức T) xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh H nghiện ma túy, không tập trung làm ăn, thường xuyên vi phạm pháp luật, vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay. Anh H không đồng ý ly hôn với lý do là đang phải chấp hành án. Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho anh H chấp hành xong hình phạt để tham gia phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H. Xét mâu thuẫn của chị Phan Thị Nhật H và anh Trần Văn H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, lý do anh H đưa ra nhằm kéo dài và gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án nên HĐXX cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng chị H và anh H (tức T) có một con chung là Trần Thị Phương T, sinh ngày 08-3-1996. Cháu T đã trưởng thành, tự lập nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử cũng không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị Phan Thị Nhật H và anh Trần Văn H (tức T) đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Phan Thị Nhật H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử ly hôn giữa chị Phan Thị Nhật H và anh Trần Văn H (tức T).

2. Về án phí: Chị Phan Thị Nhật H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000740 ngày 24-11-2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố NĐ. Chị Phan Thị Nhật H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

3. Quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Nhật H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn H (tức T) có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2018/HNGĐ-ST ngày 12/03/2018 về ly hôn giữa chị H và anh H

Số hiệu:104/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về