Bản án 106/2018/HS-ST ngày 17/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 106/2018/HS-ST NGÀY 17/05/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2018/TLST-HS ngày 04/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Thị D, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1976 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn C và bà Hoàng Thị T; bị cáo có chồng là Hà Văn M và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/02/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 05/02/2018, Lường Thị D đang ở nhà một mình tại bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì có một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đến nhà D xin uống nước, sau khi uống nước xong thì người đàn ông đó lấy từ trong chiếc giầy bên trái đang đi ra 01 túi nilon màu xanh và lấy 02 viên Methamphetamine ra sử dụng hết. D hỏi mua được của người đàn ông đó 08 viên Methamphetamine được gói trong túi nilon màu xanh với giá 160.000 đồng. Sau khi nhận túi Methamphetamine từ người đàn ông dân tộc Mông, D mang vào phòng ngủ và cất giấu dưới đệm giường ngủ của D, lấy 01 viên Methamphetamine ra sử dụng hết, còn lại 07 viên Methamphetamine D gói lại bằng túi nilon màu xanh ban đầu và cất giấu dưới đệm giường ngủ. Đến 08 giờ ngày 06/02/2018, D đang ở nhà thì Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đến nhà D kiểm tra. D đã giao nộp 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 07 viên nén còn lại và khai nhận đó là Methamphetamine của D cất giữ để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Thị D và thu giữ, niêm phong vật chứng.

Ngày 07/02/2018, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La đã quyết định khởi tố vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu.

Ngày 07/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng PC 54 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định số vật chứng nghi là Methamphetamine thu giữ của Lường Thị D được 07 viên, cân tách bì được tổng khối lượng 0,68 gam. Lấy 03 viên được tổng khối lượng 0,31 gam làm mẫu gửi giám định, xác định có phải là chất ma túy không? Loại chất ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu, mẫu ký hiệu D.

Tại Kết luận giám định số 353 ngày 10/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,68 gam, loại chất Methamphetamine.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán  Methamphetamine cho Lường Thị D vào ngày 05/02/2018, do D không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra và xử lý.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKSMC ngày 02/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lường Thị D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Thị D từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Thị D bắt ngày 06/02/2018 (04 viên = 0,37 gam các viên nén màu hồng ký hiệu WY nghi là Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, bị cáo Lường Thị D giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 06/02/2018, bị cáo Lường Thị D đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 07 viên Methamphetamine  có tổng khối lượng 0,68 gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên toà thấy bị cáo không có tài sản riêng, gia đình bị cáo chỉ có tài sản chung là một nhà sàn một gian, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Thị D bắt ngày 06/02/2018 (04 viên = 0,37 gam các viên nén màu hồng ký hiệu WY nghi là Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu). Xét là chất ma túy và đồ vật liên quan, không có giá trị sử dụng, cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lường Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Thị D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06/02/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Thị D bắt ngày 06/02/2018

(04 viên = 0,37 gam các viên nén màu hồng ký hiệu WY nghi là Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lường Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2018/HS-ST ngày 17/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:106/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về