Bản án 1078/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - TP HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1078/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 741/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm: 1982 (Có mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 630 Tỉnh lộ 15, tổ 8, ấp 5, xã T, huyện C, Thành phố H.

Tạm trú: Số 27/14B, đường số 113, tổ 7, ấp 3B, xã T, huyện C, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Dương Minh H, sinh năm: 1979 (Vắng mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 630 Tỉnh lộ 15, tổ 8, ấp 5, xã T, huyện C, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 05/11/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Lê Thị Hồng T trình bày:

Bà và ông Dương Minh H tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H.

Sau khi xây dựng gia đình, vợ chồng bà chung sống với nhau tại nhà chồng. Vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân do ông H tính tình gia trưởng, áp đặt vợ con phải sống theo ý mình, ông H làm ăn có tiền chỉ lo cho bản thân mình, không quan tâm đến cuộc sống của gia đình ra sao, tất cả mọi chi phí sinh hoạt trong nhà một mình bà phải lo gánh, bà đã nhiều lần khuyên nhủ và gia đình chồng cũng khuyên nhủ nhưng ông H không nghe, thậm chí cón đánh đập bà, hơn mười mấy năm bà chịu nhiều áp lực mà không được ông H chia sẻ, vì quá mệt mỏi nên từ tháng 10/2018 bà đã dắt 02 con về nhà mẹ ruột sống cho đến nay, tình cảm bà dành cho ông H không còn, ông H cũng đồng ý ly hôn nhưng không chịu đến Tòa án, bà cảm thấy cả hai không còn quan tâm đến nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.

Bà và ông H có 02 con chung tên Dương Bích N, sinh ngày 03/4/2006 và Dương Ngọc A, sinh ngày 25/5/2008, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung bà và ông H tự thỏa thuận, nợ chung không có.

* Bị đơn là ông Dương Minh H vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 05/11/2018, bà Lê Thị Hồng T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Dương Minh H, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, ông Dương Minh H hiện đang cư trú tại số 630 Tỉnh lộ 15, tổ 8, ấp 5, xã T, huyện C, Thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Dương Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không đến Tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị Hồng T và ông Dương Minh H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 236/2005, quyển số 0II do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H cấp ngày 21/9/2005, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét trình bày của bà T thì sau khi xây dựng gia đình vào năm 2005, trong quá trình chung sống bà và ông H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H không quan tâm đến vợ con, để mặc bà tự xoay sở, bà đã chịu đựng rất nhiều vì cuộc sống quá nhiều áp lực nhưng ông H không chia sẻ, từ tháng 10/2018 bà đã về nhà mẹ ruột sống cho đến nay, hai bên cũng ly thân từ đó, hiện cả hai không còn quan tâm gì đến nhau, bà cảm thấy không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Xét ông H không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, điều đó cho thấy ông H không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà T, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà T cung cấp, bà T và ông H không còn chung sống cùng chung một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông H là có cơ sở.

[4] Về con chung:

Bà T và ông H có 02 con chung tên Dương Bích N, sinh ngày 03/4/2006 và Dương Ngọc A, sinh ngày 25/5/2008, bà Thủy yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, ông H không đến Tòa để đưa ra ý kiến về con chung, cháu Bích N và Ngọc A cũng có nguyện vọng được sống với mẹ nên xét để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Bích N và Ngọc A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của bà T, không trái pháp luật nên ghi nhận ý kiến này. Nếu sau này bà T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.

[5] Về tài sản chung: Bà T trình bày bà và ông H tự thỏa thuận.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T trình bày không có.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Lê Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng T và ông Dương Minh H.

Kể từ ngày 27/9/2019, Giấy chứng nhận kết hôn số 236, quyển số 0II do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố H cấp ngày 21/9/2005 cho bà Lê Thị Hồng T và ông Dương Minh H không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Lê Thị Hồng T và ông Dương Minh H có 02 con chung tên Dương Bích N, sinh ngày 03/4/2006 và Dương Ngọc A, sinh ngày 25/5/2008.

Giao cháu Bích N và cháu Ngọc A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc tạm thời không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về chia tài sản chung: Bà T trình bày bà và ông H tự thỏa thuận.

4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T trình bày không có.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2019/0022042 ngày 29/5/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

6. Bà Lê Thị Hồng T có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Dương Minh H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1078/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:1078/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về