Bản án 108/2017/HNGĐ-ST ngày 27/09/2017 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 108/2017/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2017 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 331/2017/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2017; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Hằng N, sinh năm 1991; có mặt. Địa chỉ: Ấp 21, xã KT, huyện UM, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1992; xin vắng mặt. Địa chỉ: Ấp AP, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Hằng N trình bày:

Chị và anh L chung sống với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AH. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với gia đình anh L tại ấp AP, xã AH. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh L thường xuyên uống rượu,không lo cho gia đình, chị bất đồng quan điểm với mẹ chồng. Vợ chồng tự sống ly thân từ tháng 03-2017 đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Tuấn V, sinh ngày 09-4-2016, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn L trình bày:

Nhận thấy anh L thừa nhận lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung, nợ chung như chị N trình bày là đúng. Nguyên nhân vợ, chồng xảy ra mâu thuẫn là do chị N bất đồng quan điểm với mẹ anh. Do cha anh và bà nội anh liên tiếp qua đời đột ngột nên anh buồn và có đi uống rượu. Chị N giận và bỏ về nhà cha, mẹ chị N sống. Anh có đặt vấn đề đoàn tụ nhưng chị N không đồng ý. Hiện nay, anh đã cất nhà riêng để vợ chồng chung sống lại nhưng chị N vẫn không đồng ý đoàn tụ. Nay anh yêu cầu đoàn tụ. Nếu Tòa án xét xử cho anh và chị N ly hôn, anh có ý kiến như sau:

Về con chung: Anh đồng ý để chị N nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét, quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Hằng N yêu cầu được ly hôn anh Lê Văn L.

Về con chung: Giao chị N nuôi cháu Lê Tuấn V, sinh ngày 09-4-2016.

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Lê Văn L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh L chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AH. Cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng tự sống ly thân từ tháng 3-2017 đến nay. Nguyên nhân là do anh L thường xuyên uống rượu, không lo cho gia đình, chị N bất đồng quan điểm với mẹ chồng. Thời gian ly thân, anh L đã dùng nhiều giải pháp để đoàn tụ cùng chị N nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn. Tuy nhiên, địa phương vẫn không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị N và anh L. Qua đó, cho thấy khả năng đoàn tụ giữa chị N và anh L không còn. Do đó, có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định: Hôn nhân của chị N và anh L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Cháu Lê Tuấn V, sinh ngày 09-4-2016 đang sống với chị N. Chị N yêu cầu nuôi cháu V. Anh L cũng đồng ý để chị N nuôi cháu V. Xét thấy, cháu V còn nhỏ cần được sự chăm sóc, nuôi dưỡng cận kề của người mẹ. Vì vậy, có cơ sở giao chị N tiếp tục nuôi cháu V là phù hợp với với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh L không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Hằng N được ly hôn anh Lê Văn L.

2. Về con chung: Giao chị Lê Hằng N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Tuấn V, sinh ngày 09-4-2016. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Lê Hằng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008901 ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị N biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2017/HNGĐ-ST ngày 27/09/2017 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:108/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về