Bản án 1082/2018/DS-PT ngày 13/11/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1082/2018/DS-PT NGÀY 13/11/2018 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Trong ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 359/DSPT ngày 06/8/2018 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Do bản án dân sự sơ thẩm số 222/2018/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4838/2018/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 9098/2018/QĐ-PT ngày 31/10/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ph Th Ng A

Địa chỉ: Số 290 D, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bà Ph Th A H

Địa chỉ: Số 8 T, Phường K, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ng D L, luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Tr H T

Trú tại: Ấp AN, xã HA, huyện C, tỉnh A (có đơn xin vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Công ty TNHH Q Tr;

Trụ sở: 35 Ph V H, khu phố T, phường T Th N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ng V Th

Địa chỉ: 35 Ph V H, khu phố T, phường T Th N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3.2 Bà H Th Ng C, Địa chỉ: Số 290 D, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3.3 Ông H Tr Ng, Địa chỉ: Số 290 D, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bà Ph Th Ng A – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Ph Th Ng A trình bày:

Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 03/4/2015, ông H Đ S (chồng bà Ph Th Ng A) điều khiển xe mô tô biển số 53P9-XXXX lưu thông trên đường Đ V B thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 61N3-XXX do ông Đ V Ng điều khiểu. Việc va chạm làm ông S ngã xuống đường và bị xe ô tô biển số 51C-YYYY do ông Tr H T điều khiển cán qua người. Sau khi tai nạn xảy ra, ông S được đưa vào bệnh viện cấp cứu và chết tại bệnh viện vào lúc 16 giờ cùng ngày.

Vụ việc được cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Đến ngày 19/7/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an quận T ban hành văn bản số 106 thông báo kết quả giải quyết tố cáo, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Theo nội dung văn bản xác định tai nạn giao thông xảy ra lỗi hoàn toàn do ông H Đ S gây ra, ông Tr H T điều khiển xe đi đúng phần đường quy định, sự việc xảy ra do ông Sang bất ngờ tự ngã sang phần đường xe ô tô. Vì vậy, Công an quận Thủ Đ đã ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 127 ngày 01/6/2015. Không đồng ý với nội dung văn bản số 106 ngày 19/7/2015, Ph Th Ng A liên tục khiếu nại nhiều nơi nhưng kết quả giải quyết khiếu nại vẫn giữ nguyên các nội dung đã nêu tại Thông báo số 106 ngày 19/7/2015.

Do đó Ph Th Ng A khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại về mặt dân sự. Cụ thể yêu cầu ông Tr H T và Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Quốc Trung liên đới bồi thường thiệt hại cho gia đình Ph Th Ng A do ông Tân đã gây tai nạn cho ông H Đ S. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại là 304.550.992 đồng bao gồm: Chi phí viện phí, mai táng và ma chay là 94.550.992 đồng; tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần là 210.000.000 đồng.

Bị đơn ông Tr H T trình bày:

Ông là tài xế lái xe của Công ty TNHH QT, hai bên không ký kết hợp đồng lao động. Ngày 03/4/2015, khi ông đang lái xe trên đường Đ V B thì xảy ra tai nạn giao thông với ông H Đ S. Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an quận Thủ Đức đã tiến hành điều tra và kết luận ông không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông, đã trả lại xe và giấy tờ xe cho ông và Công ty TNHH QT.

Sau khi tai nạn xảy ra, ông và ông Ng V Th (chủ xe) có mang số tiền 50.000.000 đồng đến gặp Ph Th Ng A nhiều lần để hỗ trợ một phần thiệt hại cho gia đình nhưng Ph Th Ng A không đồng ý nhận và khởi kiện ra Tòa án. Nay ông không còn lái xe cho Công ty TNHH QT nữa và cuộc sống gặp nhiều khó khăn nên ông chỉ có khả năng hỗ trợ cho gia đình Ph Th Ng A 3.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H Th Ng Ch và ông H Tr Ng trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH QT: Không có lời khai trong suốt quá trình tố tụng và không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 222/2018/DS-ST ngày 08/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Về việc buộc ông Tr H T và Công ty TNHH QT liên đới bồi thường chi phí về viện phí, mai táng số tiền 94.550.992 đồng, thiệt hại về tinh thần số tiền 210.000.000 đồng; tổng cộng 304.550.992 đồng (ba trăm lẻ bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn chín trăm chín mươi hai đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tr H T hỗ trợ một lần chi phí thiệt hại cho gia đình bà Ph Th Ng A số tiền 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18/5/2018, Nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên sau khi xem xét đánh giá các chứng cứ tại phiên tòa, luật sư đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn và Công ty TNHH QT bồi thường số tiền 50.000.000 đồng như đề nghị tại Cơ quan điều tra để hổ trợ một phần chi phí trong việc mai táng ma chay cho ông H Đ S, vì hiện nay gia đình Ph Th Ng A rất khó khăn.

Nguyên đơn bà Ph Th Ng A trình bày: Bà đồng ý với ý kiến của Luật sư. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về hình thức: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng các đương sự vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

+ Về nội dung: Căn cứ quyết định số 127 ngày 01/6/2015 và Thông báo số 106 ngày 19/7/2015 của Công an quận T thì vụ tai nạn giao thông xảy ra lỗi hoàn toàn do ông H Đ S gây ra, ông Tr H T không có lỗi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Ph Th Ng A làm trong thời hạn luật định nên chấp nhận.

Bị đơn ông Tr H T có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 30/9/2018 và các ông bà Hoàng Trọng Nghĩa, bà Hoàng Thị Ngọc Châu, ông Nguyễn Văn Thật là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Vận Tải Quốc Trung vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.

Tại hồ sơ vụ án thể hiện bà Ph Th Ng A có ủy quyền Ph Th A H, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà H vắng mặt và Ph Th Ng A đề nghị được trực tiếp tham gia phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa xét xử với sự có mặt trực tiếp của nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

Bà Ph Th Ng A kháng cáo yêu cầu ông Tr H T và Công ty TNHH QT liên đới bồi thường thiệt hại tổng số tiền 304.550.992 đồng bao gồm chi phí viện phí, mai táng và thiệt hại về tinh thần do ông Tr H T là lái xe của Công ty TNHH QT đã có hành vi xâm phạm tính mạng của chồng bà là ông H Đ S.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện nội dung vào lúc 14 giờ ngày 03/4/2015, ông H Đ S điều khiển xe mô tô biển số 53P9-XXXX lưu thông trên đường Đ V B hướng về ngã tư B Th khi đến trước nhà số 214 Đ V B, phường Tr Th, quận T thì vượt bên phải xe mô tô biển số 61N3-XXXX do ông Đàm Văn Ngân điều khiển. Vụ va chạm khiến ông Sang ngã sang làn đường ô tô và bị ô tô biển số 51C-YYYY do ông Tr H T điều khiển cán qua người.

Căn cứ sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 03/4/2015. Kết luận giám định số 963/C54B ngày 15/5/2015 của phân viện khoa học hình sự kết luận: Không thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 53P9-6102 với xe ô tô biển số 51C-270.18 và phương tiện khác khi tham gia giao thông. Bánh sau bên phải xe ô tô biển số 51C-270.18 cán lên người nạn nhân H Đ S. Nguyên nhân ông Sang chết do đa chấn thương.

Căn cứ Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 127 ngày 01/6/2015 và Thông báo số 106 ngày 19/7/2015 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Thủ Đức xác định như sau: Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông do lỗi của H Đ S điều khiển xe môtô biển số 53P9-XXXX lưu thông vượt bên phải xe môtô biển số 61N3-XXXX do anh Đ V Ng điều khiển vi phạm Điều 14 Luật giao thông đường bộ và tự ngã sang phần đường xe ôtô biển số 51C-YYYY đang lưu thông đúng phần đường qui định, bị bánh sau bên phải cán qua phần lưng làm anh S tử vong. Ông Tr H T điều khiển xe ôtô đúng phần đường qui định, nhưng do ông S điền khiển xe mô tô bất ngờ tự ngã sang phần đường xe ô tô nên ông T không tránh kịp vì vậy ông T không có lỗi. Viện kiểm sát nhân dân quận T ban hành kết luận kiểm sát số 249/KL-VKS ngày 14/7/2015 xác định quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra Công an quận T có căn cứ theo qui định pháp luật.

Không đồng ý với kết luận không khởi tố vụ án, Ph Th Ng A khiếu nại, ngày 12/11/2015 Viện kiển sát nhân dân quận T ban hành Quyết định số 36/QĐ- VKS không chấp nhận đơn khiếu nại của bà Ph Th Ng A.

Do ông Tr H T không có hành vi trái pháp luật, thiệt hại xảy ra trong trường hợp này do sự kiện bất ngờ, thuộc trường hợp bất khả kháng, lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông hoàn toàn do ông S, ông T không có khả năng ngăn ngừa sự việc xảy ra nên không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo qui định tại điểm b khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005.

Đối với yêu cầu của luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị đơn và Công ty TNHH QT hổ trợ số tiền 50.000.000 đồng như đề nghị tại Cơ quan điều tra vì hiện nay gia đình Ph Th Ng A rất khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa hôm nay, bị đơn và người đại diện của Công ty TNHH QT đều vắng mặt nên không thể xem xét giải quyết yêu cầu này của luật sư cho nguyên đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn hổ trợ cho nguyên đơn số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng như án sơ thẩm đã tuyên.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp qui định pháp luật nên chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ph Th Ng A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp không phải nộp tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 296; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 161; Điều 623; Điều 635; Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo).

Tuyên xử: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 222/2018/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Về việc buộc ông Tr H T và Công ty TNHH QT liên đới bồi thường chi phí về viện phí, mai táng số tiền 94.550.992 đồng, thiệt hại về tinh thần số tiền 210.000.000 đồng; tổng cộng 304.550.992 đồng (ba trăm lẻ bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn chín trăm chín mươi hai đồng).

[2] Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tr H T hỗ trợ một lần chi phí thiệt hại cho gia đình bà Ph Th Ng A số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.

[3] Về án phí dân sự: Bà Ph Th Ng A được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về