Bản án 109/2017/HSST ngày 23/10/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 109/2017/HSST NGÀY 23/10/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23/10/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2017/HSST ngày 04/10/2017 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh ngày 01/4/1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn Kh (đã chết) và bà Linh Thị Ph; có vợ là Vi Thị L, có 02 con sinh năm 2009 và 2010; tiền án: Ngày 30/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 09/10/2016, tạm giam từ ngày 15/10/2016 đến nay - Có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Triệu Thị K.L, Luật sư Văn phòng Luật sư T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn - Có mặt;

Người có quyền lợi liên quan: Anh Lương Văn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn - Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/10/2016, Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 12D1 05403, mang theo một túi nilon màu đỏ đến trước cổng chợ Đ, đường B, phường V, thành phố L. Khi bị cáo đang chuẩn bị giao chiếc túi màu đỏ cho hai người đàn ông ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Wave, không có biển kiểm soát, đang dừng trước cổng chợ thì bị Tổ công tác Phòng PC45 phối hợp với Phòng PC47 Công an tỉnh Lạng Sơn tiến hành kiểm tra. Trong khi Tổ công tác tiếp cận Hoàng Văn H, hai người đàn ông trên xe mô tô Wave bỏ chạy.

Khi kiểm tra đối với Hoàng Văn H, Tổ Công tác thu giữ của bị cáo một túi nilon màu trắng trong suốt chứa chất tinh thể màu trắng, đựng trong một túi nilon màu đen, ngoài cùng là túi nilon màu đỏ. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ một giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Văn H, một điện thoại di động hiệu Samsung Duos màu vàng đồng và một xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12D1 05403.

Tại bản Kết luận giám định số 319/KL-PC54 ngày 13/10/2016, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận chất tinh thể màu trắng đựng trong một túi nilon màu trắng thu giữ của Hoàng Văn H là chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng là 950,2 gam.

Tại bản cáo trạng số 98/VKS-P1 ngày 02/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm e khoản 4 điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 34 của Bộ luật Hình sự; điểm a tiểu mục 3.1 Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; xử phạt bị cáo mức án tù chung thân; không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 947,6 gam Methamphetamine là mẫu vật sau giám định và các vỏ bao gói; tịch thu để sung công quỹ một điện thoại di động hiệu Samsung; trả bị cáo giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Văn H; trả anh Lương Văn Đ một xe mô tô hiệu Yamaha Sirius.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn H trình bày: Luật sư không tranh luận về điều luật áp dụng và tội danh đối với bị cáo. Theo lời khai của bị cáo thì việc bị cáo mua ma túy về bán là do Lý Văn Đ đặt vấn đề, gợi ý trước. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; số ma túy bị cáo mua về để bán đã bị thu giữ kịp thời, không gây hại cho xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa; bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Anh Lương Văn Đ trình bày: Do là hàng xóm với nhau nên khi bị cáo mượn xe mô tô, anh Lương Văn Đ đã đồng ý cho mượn; bản thân anh không biết bị cáo mượn xe để sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại cho anh Lương Văn Đ chiếc xe mô tô đang bị tạm giữ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Ngày 09/10/2016, bị cáo Hoàng Văn H đã có hành vi mua trái phép chất ma túy với người đàn ông Trung Quốc, tên là P, và bị cáo tự vận chuyển từ khu vực biên giới, qua đường mòn H, thôn P, xã X, huyện C về nhà của bị cáo; sau đó, bị cáo tiếp tục dùng xe mô tô biển kiểm soát 12D1 05403 mượn của anh Lương Văn Đ để vận chuyển số ma túy mua được ra thành phố L với mục đích để bán.

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ được. Như vậy, bị cáo Hoàng Văn H đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; trọng lượng chất ma túy Methamphetamine thu giữ của bị cáo là 950,2 gam. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng hành vi mà bị cáo thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trực tiếp mua trái phép chất ma túy với người Trung Quốc, tiếp tay cho người ở nước ngoài đưa ma túy vào lãnh thổ Việt Nam. Hành vi đó đã xâm phạm nghiêm trọng chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án tại bản án số 22/2016/HSST ngày 30/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn, chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tội phạm mà bị cáo đã bị xét xử năm 2016 là tội phạm ít nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị một cách phù hợp.

Về nhân thân: Tại bản án số 22/2016/HSST ngày 30/3/2016, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt Hoàng Văn H 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Việc bị cáo tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách thể hiện bị cáo là người thiếu tu dưỡng bản thân và là người coi thường pháp luật.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định mức hình phạt phù hợp, bảo đảm tính giáo dục riêng và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Ngoài ra, vì bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách, nên bị cáo phải chấp hành bản án trước theo quy định tại khoản 5 Điều 60 của Bộ luật Hình sự, cụ thể, lần phạm tội trước, bị cáo bị xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, trừ thời gian đã bị tạm giam 02 tháng 04 ngày (từ ngày 03/12/2015 đến ngày 04/02/2016), thời hạn tù bị cáo còn phải chấp hành là 03 tháng 26 ngày sẽ được tổng hợp với hình phạt của bản án này thành hình phạt chung theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Văn H có tài sản là đất vườn và đất ruộng do bố mẹ của bị cáo để lại. Xét thấy, đất đai là tư liệu sản xuất của gia đình bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo khai việc bị cáo mua bán ma túy là do Lý Văn Đ đặt mua với bị cáo với giá 200.000.000 đồng/kg. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã thông tin cho Lý Văn Đ và được Lý Văn Đ hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại khu P, thành phố L. Tại khu P, bị cáo thấy Lý Văn Đ ngồi sau xe mô tô do một người nam thanh niên điều khiển, Lý Văn Đ ra hiệu cho bị cáo đi theo, đến khu vực cổng chợ Đ thì dừng lại. Khi bị cáo chuẩn bị giao ma túy cho Lý Văn Đ thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Lý Văn Đ, sinh ngày 23/01/1991, chỗ ở tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Mặc dù Lý Văn Đ thừa nhận quen biết bị cáo và có nói chuyện với bị cáo qua điện thoại, nhưng nội dung chỉ là hỏi thăm sức khỏe, không liên quan đến việc mua bán ma túy. Tháng 02 năm 2017 đến nay, Lý Văn Đ đã đi khỏi địa phương, do đó, chưa đủ cơ sở để xử lý.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông đi cùng Lý Văn Đ, do không có đủ thông tin về nhân thân, lai lịch, do đó, không có điều kiện xác minh, làm rõ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Một giấy chứng minh nhân dân là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo; mẫu vật sau giám định đựng trong một hộp bìa cát tông là chất ma túy nên tịch thu để tiêu hủy; một điện thoại di động hiệu Samsung Duos thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc về việc phạm tội nên tịch thu để sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 05403, bị cáo Hoàng Văn H khai bị cáo mượn chiếc xe nói trên của anh Lương Văn Đ, là người cùng thôn với bị cáo; khi mượn, bị cáo chỉ nói mượn đi có việc. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Lương Văn Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Xét thấy, mặc dù bị cáo đã sử dụng chiếc xe mô tô vào việc phạm tội, nhưng anh Lương Văn Đ, là chủ sở hữu, không biết và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Do đó, trả lại chiếc xe cho anh Lương Văn Đ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy;

Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 5 Điều 60; khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 20 (hai mươi) năm tù. Buộc bị cáo Hoàng Văn H chấp hành phần hình phạt còn lại là 03 (ba) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày của bản án số 22/2016/HSST ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tổng hợp thành hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 20 năm 03 tháng 26 ngày (hai mươi năm, ba tháng, hai mươi sáu ngày). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2016.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu để tiêu hủy một hộp bìa cát tông được niêm phong bằng giấy trắng, có chữ ký cùng tên của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn của UBND phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tại phần giáp lai mới có chữ ký cùng tên của ông Nông Trung H, cán bộ Phòng PC45 Công an tỉnh Lạng Sơn, giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định Bùi Anh T và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Bên trong chứa 947,6 gam Methamphetamine;

- Tịch thu để sung quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Duos màu vàng đồng đã qua sử dụng, số Imei 1: 359658/06/402861/8;

- Trả bị cáo Hoàng Văn H một giấy chứng minh nhân dân số 082150163 mang tên Hoàng Văn H, do Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 03/12/2011;

- Trả anh Lương Văn Đ một xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu bạc đen, biển kiểm soát 12D1 05403, số khung: RLCS5C630CY664369, số máy: 5C63664419, xe đã qua sử dụng.  (Vật chứng được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2017).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.Bị cáo và người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


33
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về