Bản án 109/2018/HNGĐ-ST ngày 14/06/2018 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 109/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2018/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2018 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Trúc L, sinh năm: 1980, (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Số 69, Nguyễn Việt Khái, khóm 5, phường X, thành phố Y, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Phong Ph, sinh năm: 1981, (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Ông Muộn, xã Lý Văn Lâm, Y, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 21/3/2018 và tại phiên tòa, chị Trần Trúc L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phong Ph xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường X, thành phố Y, tỉnh C. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận.

Quá trình chung sống, chị cho rằng kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng anh Ph không lo làm ăn mà đam mê cờ bạc, không quan tâm, lo lắng cho mẹ, con chị, từ đó vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống; tình cảm vợ chồng dần dần phai nhạt nên chị và anh Ph không còn chung sống vợ, chồng khoảng 04 tháng nay. Do đó, chị xét thấy tình cảm vợ, chồng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phong Ph.

- Về con chung: Chị L xác định chị và anh Ph có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Bảo Th, sinh ngày 01/11/2007, hiện cháu Th đang được chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị L xác định vợ, chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị L khai giữa vợ, chồng chị không thiếu nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng chị.

Đối với anh Nguyễn Phong Ph, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến phiên tòa để tham gia hòa giải và xét xử vụ án thông qua cha ruột anh Ph là ông Nguyễn Văn N và em ruột là anh Nguyễn Vũ Đ nhận thay và cam kết giao lại cho anh Ph nhưng anh Ph vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập anh Phú nhiều lần đến phiên tòa để tham gia hòa giải và xét xử vụ án thông qua cha ruột anh Ph là ông Nguyễn Văn N và em ruột là anh Nguyễn Vũ Đ nhận thay và cam kết giao lại cho anh Ph nhưng anh Ph vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Ph theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2] Về hôn nhân: Chị Trần Trúc L và anh Nguyễn Phong Ph xác lập quan hệ vợ, chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn vào năm 2005 và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều điểm bất đồng, không quan tâm, chăm sóc, cảm thông và chia sẻ lẫn nhau.

Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong cuộc sống gia đình, anh, chị gặp khó khăn về kinh tế,nhưng anh Ph không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, bỏ mặc vợ, con dẫn đến việc gây bất hòa trong cuộc sống, làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng nên anh, chị mỗi người sống một nơi, có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Trên thực tế anh, chị cũng không còn chung sống vợ, chồng nhiều tháng nay. Thời gian này không ai có biệnpháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn và cũng không liên lạc hay quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Bên cạnh đó, chị L cương quyết ly hôn, nếu không được xem xét chấp nhận cho chị ly hôn thì chị cũng không đoàn tụ, chung sống với anh Ph được nữa do không còn tình cảm vợ, chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh Ph là có căn cứ.

 [3] Về con chung: Chị L xác định chị và anh Ph có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Bảo Th, sinh ngày 01/11/2007, hiện cháu Th đang được chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Th hiện do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời nguyện vọng của cháu Th muốn được chung sống với chị L nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Th cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng và không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn có cơ sở.

 [4] Về tài sản chung: Chị L xác định vợ, chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết;

 [5] Về nợ chung: Chị L khai vợ, chồng chị không thiếu nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng chị nên không đặt ra xem xét.

 [6] Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Trúc L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Phong Ph.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Bảo Th, sinh ngày 01/11/2007 cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Ph được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị L xác định không có nên không đặt ra xem xét;

4. Về nợ chung: Chị L khai không thiếu nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Trần Trúc L phải chịu 300.000đ. Ngày 22 tháng 3 năm 2018, chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 515 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Trần Trúc L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Phong Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2018/HNGĐ-ST ngày 14/06/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:109/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về