Bản án 109/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 109/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 483/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 10 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 99/2018/QĐ.HPT ngày 19/10/2018 giữa các đương sự:

 - Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 22, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Trong đơn khởi kiện ngày 16/7/2018, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, thay đổi, không rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Minh T yêu thương, cưới nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai năm 2015. Sau khi kết hôn, chị và anh T sống chung với gia đình chồng tại xã V. Vợ chồng hạnh phúc đến tháng 4/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong thời gian chị về nhà cha mẹ ruột ở tỉnh Lâm Đồng để sinh con thì anh T bắt đầu phát sinh những tật xấu như: không lo làm ăn, chơi bời, cờ bạc, cá độ dẫn đến nợ nần. Trong thời gian chị về Lâm Đồng để sinh nở, khoảng mấy tháng anh T mới đến thăm mẹ con chị một lần, chỉ đưa cho chị tiền nuôi con được 6.000.000 đồng, sau đó thì không phụ cấp nữa.

Chị và gia đình hai bên đều biết việc anh T ăn chơi, cá độ và nhiều lần khuyên nhủ, cho anh T cơ hội để sửa đổi nhưng anh T vẫn không có sự thay đổi. Từ giữa năm 2017 cho đến nay, chị và anh T đã ly thân. Chị vẫn sống và làm việc tại Lâm Đồng, còn anh T thì sống tại xã V. Vợ chồng có bàn bạc đoàn tụ nhưng không thành. Ngoài những nguyên nhân nêu trên thì anh T còn nhiều lần nhắn tin, điện thoại uy hiếp sẽ đánh, giết hoặc cả hai sẽ chết chung, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho chị H. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: chị và anh T chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2015. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Hiện nay chị đang làm nhân viên kỹ thuật tại Công ty lâm nghiệp Bảo Lâm, thu nhập hàng tháng là 4.300.000 đồng, đang sống cùng nhà với cha mẹ ruột tại Lâm Đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, như cung cấp tài liệu, chứng cứ và tham gia phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: đề nghị giao con chung là Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2015 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T, bị đơn anh Nguyễn Minh T cư trú tại xã V, huyện Nhơn Trạch, vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện nên Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch thụ lý là đúng theo quy định tại khoản 5, Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Minh T, toà án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V số 40, quyển 02/2014 ngày 24/3/2015 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, ăn chơi, cờ bạc, cá độ dẫn đến nợ nần. Chị và gia đình 02 bên nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh không có sự thay đổi, vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2017 đến nay nên chị H nộp đơn xin ly hôn anh T. Toà án đã tiến hành xác minh tại UBND xã V nơi các đương sự sinh sống cũng xác định giữa chị H và anh T có mâu thuẩn với nhau, hiện nay không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết Toà án đã triệu tập anh T đến lần thứ hai để hoà giải nhưng anh vắng mặt không có lý do điều đó thể hiện anh T không có thiện chí để hòa giải. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ: chị H và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, anh chị đã ly thân nhau từ năm 2017 đến nay nhưng không có biện pháp để hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: giữa chị H và anh T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2015, do chị H đang nuôi dưỡng, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu xin nuôi con chung của chị H là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ cháu N là bé gái vừa đủ 36 tháng tuổi, chị H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, hiện chị cũng có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

[4] Về chia tài sản chung và nợ chung: chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Nguyễn Minh T. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Minh T.

[2] Về con chung: xử giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2015, cho chị Nguyễn Thị H được quyền nuôi dưỡng, tạm thời anh Nguyễn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Minh T vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh T được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của 01 hoặc cả 02 bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 003982 ngày 16 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tống đạt hợp lệ bản án.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

Số hiệu:109/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về