Bản án 110/2018/HS-ST ngày 15/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 110/2018/HS-ST NGÀY 15/11/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2018/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố 102/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2018/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM H M; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 22/5/1993 tại Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn C2, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Minh Ph, sinh năm 1973 và con bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1973; Tiền sự; tiền án: Không; Vợ, con: Chưa;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 22/6/2018 đến ngày 01/7/2018, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày22/6/2018, tại khu vực tổ 03, phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện Phạm Hồng M vừa dừng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển kiểm soát 27B1 - 732.09, có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm về ma túy nên áp sát kiểm tra, M thả 01 gói nhỏ màu đen, bên trong có 07 viên nén màu hồng, từ trong lòng bàn tay trái xuống vỉa hè, cách bánh trước xe mô tô khoảng 10 cm. M khai số viên nén màu hồng đó là Hồng phiến, M mua lúc khoảng 09 giờ cùng ngày, của một người đàn ông M không quen biết tại bản Noong Ứng, xã Thanh An, huyện Điện Biên với giá 350.000 đồng, với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó, M mang số Hồng phiến điều khiển xe mô tô đi về thành phố Điện Biên Phủ chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi cất giấu 07 viên nén màu hồng để bán kiếm lời của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các vấn đề khác:

Tại Kết luận số 611/GĐ-PC54 ngày 29/6/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy: Loại methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại vềKết luận Giám định nêu trên. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 70/CT- VKSTP ngày 02/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Phạm Hồng M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,63 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 cuộn băng dính màu đen và 01 mảnh nilon, 01 mảnh băng dính. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố Điện Biên Phủ; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

2. Xét các hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Phạm Hồng M của người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 22/6/2018 bị cáo Phạm Hồng M đã có hành vi cất giấu trái phép 07 viên hồng phiến có trọng lượng 0,68 gam mục đích để bán. Hành vi nêu trên của bị cáo M đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự được quy định như sau:

 “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi trên của bị cáo Phạm Hồng Mđược chứng minh tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám đinh trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Phạm Hồng M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Phạm Hồng M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định; đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc bị cáo phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.

4. Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có công ăn việc làm và bị cáo đi chấp hành án nên không có khả năng thi hành. Do vậy HĐXX không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5. Về vật chứng vụ án: Đối với 0,68 gam Methamphetamine, sau khi gửi đi giám định hoàn là vật chứng là 0,63 gam, 01 cuộn băng dính màu đen và 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-732.09; 05 chiếc điện thoại các loại; 01 túi đeo giả da màu nâu đen; 01 ví giả da màu đen; số tiền 4.030.000 đồng (bốn triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) và các giấy tờ của bị cáo. Xe mô tô là của anh Lò Việt Hùng cho bị cáo mượn, anh không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội; Các tài sản và giấy tờ còn lại là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và người được bị cáo ủy quyền nhận hộ ngày 12/9/2018 . Xét việc trả lại tài sản là có căn cứ, do vậy HĐXX chấp nhận.

6. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hồng M tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 22/6/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,63 gam Methamphetamine hoàn lại sau khi giám định, 01 cuộn băng dính màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính.

Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ ngày 10/10/2018

- Chấp nhận các biên bản trao trả tài sản ngày 12/9/2018.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Hồng Mchịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/11/2018./.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 110/2018/HS-ST ngày 15/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:110/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về