Bản án 110/2018/HS-ST ngày 27/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 110/2018/HS-ST NGÀY 27/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2018/TLST-HS ngày 20/4/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2018/QĐXXST-HS ngày 20/4/2018, đối với bị cáo:

Ngô Huyền Tr, sinh năm 1998; HKTT: Thôn Y Na 2, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Xuân Thường (Đã chết) và bà Lê Thị Hà; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 350 ngày 05/02/2018 tại Công an quận Nam Từ Liêm; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2018 đến ngày 11/02/2018, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Phạm Thị Yến, sinh năm 1997; HKTT: Thôn An Tân, xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; Chị Yến vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Huyền Tr cùng chị Phạm Thị Yến và chị Nguyễn Thị Hằng (Sinh năm 1996, Hộ khẩu thường trú: Gia Tân, Gia Lộc, Hải Dương) ở cùng nhau tại phòng trọ tại số 302, nhà 24X5, ngõ 60 Dương Khuê, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chiều ngày 30/01/2018, Trang quan sát thấy chị Yến cất giữ tiền vào ngăn tủ cá nhân nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 19h30’ ngày 31/01/2018, Trang về phòng trọ thấy trong nhà không có ai nên đã lấy dao gọt hoa quả bằng kim loại cạy hai bên mặt ngoài của ngăn kéo tủ cá nhân của chị Yến làm bung miếng gỗ của ngăn kéo ra. Trang lấy chiếc ví da màu đen kích thước khoảng 15x25cm, có khóa hai đầu trong có 31.500.000 đồng và 140 USD. Trang lấy trong ví 18.000. 0000 đồng cho vào phòng bì cất vào ngăn kéo tủ quần áo của Trang, số tiền còn lại 13.500.000 đồng và 140USD Trang cất trong người, ví Trang vứt tại nơi để rác trước cửa nhà. Khoảng 23h30’ cùng ngày chị Yến về phát hiện mất tiền đã lên công an trình báo. Tại cơ quan công an, Trang nhận thức được hành vi của mình nên đã xin tự thú và giao nộp số tiền 18.000.000 đồng cất tại ngăn tủ quần áo của Trang tại phòng trọ. Số tiền 13.500.000 đồng và 140USD, lúc đầu Trang khai đã chi tiêu hết sau đó thay đổi lời khai khi được Công an đưa đến bệnh viện 198 Bộ Công an để khám và siêu âm. Trang đã xin đi vệ sinh và lấy số tiền 13.500.000 đồng và 140USD vẫn giấu trong người, bỏ vào bồn cầu xả nước cho trôi hết số tiền này. Dẫn giải, Trang đã xác định địa điểm vứt bỏ tiền nhưng cơ quan điều tra không thu giữ được tang vật. Vật chứng thu giữ gồm có: 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 30cm và 18.000. 000 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu đồng) gồm 36 tờ 500.000 đồng.

Ngày 19/3/2018, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Từ Liêm đã cung cấp tỷ giá quy đổi ngoại tệ đồng USD ngày 31/01/2018 là: 22.710 đồng/1 USD. Quy đổi 140 USD tương đương 3.179.400 đồng (Bằng chữ: Ba triệu, một trăm bẩy mươi chín nghìn, bốn trăm đồng). Vậy, tổng số tiền Trang đã trộm cắp là 34.679.400 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, sáu trăm bẩy mươi chín nghìn, bốn trăm đồng).

Ngày 02/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trao trả 18.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu đồng) cho chị Phạm Thị Yến.

Ngày 06/3/2018, Trang đã khắc phục cho chị Yến 13.500.000 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng) và 140USD (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi đô la Mỹ). Chị Yến đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trang.

Tại Cơ quan điều tra Trang khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Trang phù hợp với lời khai của người bị hại, tang vật đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Bản cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 18/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Ngô Huyền Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo và kết luận, giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Tr về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị xử phạt bị cáo Tr từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Không; về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 30cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 19h30’ tối ngày 31/01/2018, tại phòng trọ ở số 302 nhà 24X5, ngõ 60 Dương Khuê, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Ngô Huyền Tr đã thực hiện hành vi trộm cắp 31.500.000 đồng và 140USD của chị Phạm Hải Yến. Tổng trị giá tài sản Trang trộm cắp là 34.679.400 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, sáu trăm bẩy mươi chín nghìn, bốn trăm đồng). Tang vật đã thu hồi và khắc phục trả người bị hại, chị Yến có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trang.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[2] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Căn cứ vào tổng số tiền chiếm đoạt của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục hậu quả, người bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội có sự giám sát của chính quyền địa phương cùng gia đình bị cáo, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, bảo đảm yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Viện kiểm sát, tịch thu, tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 30cm, là phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Tr từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án, là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, là có căn cứ.

[8] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Xét thấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Huyền Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Huyền Tr 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại có lưỡi dao màu trắng, chuôi dao màu đen, dài khoảng 30cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 118 ngày 19/4/2018, giữa: Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm).

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Bị cáo Ngô Huyền Tr phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 110/2018/HS-ST ngày 27/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:110/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về