Bản án 111/2019/HS-PT ngày 12/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 111/2019/HS-PT NGÀY 12/09/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công kI vụ án hình sự thụ lý số 165/2019/TLPT-HS ngày 05/8/2019. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn V, sinh năm 1992; HKTT: Thôn C, xã P, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam ; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952 (ông N là thương binh hạng 4/4, được NA nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang) và con bà Trần Thị L, sinh năm 1954; Vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

Vụ án còn có 03 bị cáo khác là Ngô Huy T, Đỗ Văn H, Đỗ Văn B và những người bị hại không kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 22 giờ 30 phút ngày 29/4/2018, Nguyễn Văn V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34A-128.77 chở theo vợ là chị Nguyễn Thị H và chị Trần Thị A, Đỗ Văn B đến ăn đêm tại quán của chị Nguyễn Thị R ở khu dân cư số 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Hải Dương. Trong lúc ngồi ăn, V gặp anh Đỗ Văn P, V yêu cầu anh P trả số tiền 10 triệu đồng đã vay trước đó nhưng anh P khất nợ. Sau khi ăn xong, V chở chị H, A và B đi về quán cà phê của mình. Tại đây, V gặp anh Nguyễn Đình K và Vũ Văn L; V nhờ K và L đến gặp anh P để nói chuyện về việc P không trả tiền cho V. L điều khiển xe mô tô chở K đi đến quán chị R gặp P, V chở chị H, A và B đi sau. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến quán chị R, thấy anh P đang ngồi ăn đêm cùng Ngô Huy T, Đỗ Văn H, anh Ngô Huy M, Ngô Duy M, Vũ Xuân C, Nguyễn Viết I. L gọi anh P ra đầu ngõ nói chuyện. Thấy anh P và K, L to tiếng, H và anh M đi ra chỗ P thì xảy ra xô xát. Lúc này, V điều khiển xe ô tô đi đến, thấy nhóm của K, L và nhóm của anh P đang to tiếng, V cầm theo 01 gậy rút ba khúc bằng kim loại dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 2cm cùng B xuống xe đi đến chỗ anh P, V cầm gậy vụt anh P, anh P bỏ chạy. Tiếp đó, V dùng gậy vụt vào mặt, đầu H; thấy V đánh H, B cầm ghế nhựa ném vào người H, H bỏ chạy vào trong ngõ. Lúc này, V cùng B đuổi nhóm H nhưng không đuổi được. Thấy V và B chạy vào trong ngõ, K và L sợ bị đuổi đánh nên bỏ chạy theo. V, B không đuổi được H nên quay ra đường, trên đường ra gặp anh P, V dùng gậy rút ba khúc vụt vào chân anh P làm P ngã ra đường, B dùng chân đạp vào người anh P rồi cùng V đi ra đầu ngõ. Khi ra đến gần quán chị R, V và B gặp I và Thường, V dùng gậy vụt về phía I và Thường nhưng I đỡ được và giằng co gậy với V, lúc này Thường giằng được gậy ba khúc từ tay V, Thường dùng gậy vừa giằng được vụt nhiều nhát vào người B sau đó cùng I đi về. Trên đường về G đưa gậy ba khúc cho I, I mang về vứt ở vườn. K và L từ trong ngõ đi ra, thấy B bị thương nên cùng với V đưa B lên ô tô, V ngồi ghế lái, khi B vừa lên xe, K và L vẫn đứng ở cửa xe thì H đi từ trong ngõ ra, thấy xe của V đang di chuyển chậm, H nhặt chiếc gậy gỗ dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 03cm, vụt nhiều nhát vào đầu xe và kính chắn gió xe ô tô của V làm xước, lõm đầu xe và rạn nứt kính chắn gió phía trước của xe. V điều khiển xe di chuyển chậm về phía trước, H cầm gậy đi đến chỗ K và L, K và L bỏ chạy. Lúc này, anh Ngô Huy M đang điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34A-212.72 đi với tốc độ chậm thì K chạy lùi không quan sát nên va chạm vào đầu xe của anh M ngã ra đường, H cầm gậy vụt về phía K làm K bị thương tích ở vùng đầu, mặt. Anh M thấy H xô xát với nhóm của K nên dừng xe xuống can ngăn, khi vừa bước xuống cửa xe thì bị đánh vào đầu làm rách da, chảy máu. Anh M điều khiển xe ô tô đến Bệnh viện đa khoa huyện M điều trị. V đưa K đến Bệnh viện đa khoa huyện G và Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương điều trị sau đó đi về. Đến sáng ngày 30/4/2018, V mang xe ô tô của mình đến giao nộp cho Cơ quan điều tra Kết luận giám định số 135a ngày 02/7/2018, kết luận: Anh Đỗ Văn P bị chấn thương gẫy kín 1/3 đầu dưới xương mác phải, đã xử lý. Hiện đã can xương, hạn chế nhẹ vận động khớp cổ chân phải. Tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương là 10% Kết luận giám định số 135b ngày 02/7/2018, kết luận: Anh Ngô Huy M bị 02 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh thái dương phải và đỉnh thái dương trái kích thước lớn và nhỏ. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây nên là phù hợp. Tỷ lệ tổn thương là 8%.

Kết luận giám định số 135c ngày 02/7/2018, kết luận: Ngô Huy T bị gãy xương Am dưới bên trái, đã mổ xử lý. Hiện còn phương tiện kết nối xương, không ảnh hưởng cơ năng. 03 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh phải, chẩm trái, cằm trái kích thước trung bình và nhỏ. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương là 13% .

Kết luận giám định số 136 ngày 05/7/2018, kết luận: Nguyễn Đình K bị chấn thương mắt trái gây rách giác mạc, đục vỡ thủy tinh thể, viêm mủ nội nhãn, đã mổ xử lý. Hiện mắt trái thị lực bóng bàn tay (mù), mắt phải không tổn thương. 04 sẹo vết thương phần mềm vùng đầu, đuôi mắt trái, môi trên bên phải kích thước trung bình và nhỏ. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương là 43%.

Kết luận giám định số 136b ngày 05/7/2018 kết luận: Đỗ Văn B bị chấn thương gãy kín 1/3 dưới cẳng tay trái. Hiện đã can xương, không thẳng trục, không ảnh hưởng cơ năng. Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm trái kích thước trung bình. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương là 11%.

Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 23/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M xác định: Phần hư hỏng của xe ô tô BKS 34A-128.77, nhãn hiệu Toyota (loại xe Fotuner) trị giá 15.100.000 đồng.

Tại bản án số 26/2019/HSST ngày 31/5/2019, Tòa án nhân dân huyện M đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/6/2019, bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo V trình bầy nhận tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt 33 tháng tù là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo 33 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Giai đoạn sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt: BLTTHS) trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo.

[2] Về hành vi phạm tội: Nhận tội của bị cáo như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 29/4/2018, tại khu vực quán bán Ang ăn của chị Nguyễn Thị R - sinh năm 1976 ở khu dân cư số 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Hải Dương; do có mâu thuẫn trong việc vay tiền, Nguyễn Văn V và Đỗ Văn B có hành vi dùng gậy rút ba khúc bằng kim loại và ghế nhựa gây thương tích cho Ngô Huy T và anh Đỗ Văn P; Hậu quả: Ngô Huy T bị tổn thương cơ thể 13%, anh Đỗ Văn P bị tổn thương cơ thể 10%. Bị cáo dùng gậy rút ba khúc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm để đánh người bị hại gây thương tích là tình tiết định khung tăng nặng theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, bị cáo V là người làm phát sinh mâu thuẫn và trực tiếp dùng gậy đánh, gây thương tích cho P và H. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và được những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm nhưng gây thương tích cho anh P tỷ lệ 10%, anh H 13 % nên được coi là gây thiệt hại không lớn, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt 33 tháng tù là có căn cứ. Nên không chấp nhận kháng cáo xỉn giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chấp nhận một phần kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, sự khoan hồng của Nhà nước.

[4] Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với Nguyễn Văn V như sau:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Pht Nguyễn Văn V 33 (Ba mươi ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội "Cố ý gây thương tích".

Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách (Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Anh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.


11
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2019/HS-PT ngày 12/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:111/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/09/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về