Bản án 11/2017/DSST ngày 25/09/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 11/2017/DS ST NGÀY 25/09/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 18, 21 và 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T - Sinh năm 1966. Địa chỉ: Xóm 11 xã G , huyện G , tỉnh N .

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Thái C - Sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số nhà 18 Hoàng H, phường L , Quận B , TP H .

Bị đơn: Ông Phạm Văn T Sinh năm 1934. Địa chỉ: Xóm 11 xã G , huyện G, tỉnh N

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị N  - Sinh năm 1966.

2. Anh Phạm Văn B  - Sinh năm 1984.

3. Bà Trần Thị H  - Sinh năm 1939.

4. Chị Trần Thị T - Sinh năm 1989. Đều trú tại: Xóm 11, xã G , huyện G , tỉnh N Ông T, bà H, chị T đều ủy quyền cho anh Phạm Văn B).

Người làm chứng:

1.Ông Ngô Văn V - Sinh năm 1948.

Địa chỉ: Xóm 3, xã G, huyện G , tỉnh N .

2. Ông Phạm Văn D - Sinh năm 1959

Địa chỉ: Xóm 11, xã G, huyện G , tỉnh N .

3. Ông Vũ Văn K-Sinh năm 1984 - Cán bộ địa chính xã G. Tại phiên tòa: Có mặt ông C, anh B , ông V, ông D  và ông K ;

Chị N có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2017, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 14/02/2017 và ngày 18/4/2017, bản tự khai ngày 07/3/2017 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Văn T trình bày: Gia đình anh và hộ ông Phạm Văn T (chú ruột anh) là hai hộ sử dụng đất liền kề, cùng sinh sống trên thửa đất của ông bà nội anh để lại. Hộ ông Phạm Văn T xây dựng nhà trên đất năm 1972, sau đó đến năm 1987 anh cũng xây dựng nhà trên nền móng nhà ở cũ của bố mẹ anh để lại. Trước khi làm nhà anh có thỏa thuận với ông T là để một lối đi chung (kẽm) giữa hai đầu hồi nhà của hai bên có khoảng cách từ 2m đến 2,5m. Đến năm 1998 hộ của anh và hộ của ông T được Ủy ban nhân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho đến giữa năm 2016, anh Phạm Văn B con trai ông Phạm Văn T xây dựng nhà trên đất của ông T, đã xây lấn sang phần đất của gia đình anh với diện tích khoảng 34 m2 đất bao gồm: 0,9 x21 =18,9 m2  phía trước ngôi nhà và 0.5 x 30 = 15 m2  phía sau ngôi nhà. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, buộc gia đình ông T dỡ bỏ nhà và các công trình xây dựng trên đất đi chung và lấn sang đất của gia đình anh, giữ nguyên hiện trạng ranh giới đất như trước khi tranh chấp cụ thể lấy giữa khoảng cách hai ngôi nhà để vạch đường ranh giới, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại cho gia đình anh do xây nhà làm rạn nứt nhà ở của gia đình anh, đề nghị Tòa án cho giám định xây để xác định thiệt hại. Riêng yêu cầu về giám định xây dựng để xác định thiệt hại làm căn cứ bồi thường, ngày 05 tháng 5 năm 2017 anh T có đề nghị Tòa án xem xét thẩm định, định giá xác định thiệt hại nếu không xác định được anh sẽ khởi kiện bằng vụ án khác lúc đó xẽ yêu cầu giám định xây dựng. Ngày 03 tháng 8 năm 2017 anh T nộp giấy ủy quyền lập ngày 31 tháng 5 năm 2017 ủy quyền cho ông Phạm Thái C  tham gia tố tụng.

Tại bản tự khai ngày 04/8/2017, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 09/8/2017 cũng như tại phiên tòa ông Phạm Thái C trình bày: Ông là anh rể của anh T , về nguồn gốc đất gia đình anh T đang ở là đất của cụ Phạm Văn T sau khi chết để lại cho con là ông Phạm Văn T (bố anh T ), anh T là con trai út của ông bà T hiện ông bà T đều đã chết. Ông bà T sinh được năm người con (bốn người đều có văn bản nộp cho Tòa án là không tranh chấp thửa đất này đối với anh T ). Đến năm 1987 vợ chồng anh T xây nhà và sử dụng cho tới nay, hiện đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất vào năm 1998. Ông giữ nguyên cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản tự khai ngày 07/3/2017 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án bị đơn ông Phạm Văn T trình bày: Nguồn gốc đất của ông và anh T đang sử dụng là do cụ Phạm Văn Tr (bố đẻ của ông) để lại cho ông và anh trai của ông là ông Phạm Văn T (bố anh T ). Sau khi bố mẹ mất để lại thửa đất cho ông và ông T sử dụng, trên thửa đất có 01 ngôi nhà đất nằm chính giữa. Hai anh em ông thống nhất lấy vách tường chính giữa của ngôi nhà làm mốc để phân định ranh giới. Đến năm 1972 ông lấy vợ tách ra làm nhà riêng bên phần đất của mình và có để lối đi (kẽm) khoảng 2m giữa 2 nhà để ra vườn sau nhà. Ông T mất để lại ngôi nhà cho anh T, năm 1987 anh T phá nhà đất xây nhà mới trên nền móng ngôi nhà đất mà không trả lại phần đất cho ông tính từ vách giữa ngôi nhà đất về phía nhà ông cho ông, năm 1998 cả 2 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2016 ông đồng ý cho con trai là Phạm Văn B xây dựng nhà và các công trình trên đất của ông thì xảy ra tranh chấp. Việc anh T kiện ông và con trai ông xây dựng nhà lấn sang đất nhà anh T là không có căn cứ, việc anh T đề nghị lấy kẽm trên diện tích đất vạch đường ranh giới là không đúng. Ông đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ranh giới đất của nhà ông và nhà anh T theo đúng bản đồ địa chính. Ngày 06/6/2017 ông lập văn bản ủy quyền cho anh Phạm Văn B tham gia giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai ngày 07/3/2017 biên bản hòa giải ngày 09/8/2017 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn B trình bày: Nguồn gốc thửa đất hiện tại gia đình anh đang ở là của cụ Phạm Văn T để lại cho bố mẹ anh là ông bà Phạm Văn T, đầu năm 2016 vợ chồng anh được bố mẹ anh cho phép xây dựng nhà và tường bao xung quanh trên diện tích đất của gia đình, trước khi xây anh có làm đơn đề nghị UBND xã G đến khảo sát xác định ranh giới giữa thửa đất của gia đình anh và đất của hộ anh T. Anh xây dựng trong thời gian gần 01 năm, trong quá trình xây dựng phần thô hai bên không có tranh chấp gì đến phần hoàn thiện trát áo mặt ngoài phần giáp nhà anh T , thì anh T và gia đình gây khó khăn. Nay anh T khởi kiện cho là anh đã xây sang phần ngõ đi chung và xây lấn sang đất nhà anh T, anh không đồng ý vì anh hoàn toàn đã xây dựng đúng trên phần đất của bố mẹ anh, về phần xây dựng toàn bộ trên đất là tài sản của vợ chồng anh. Anh đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ranh giới đất giữa gia đình anh và gia đình anh T theo đúng bản đồ địa chính.

Theo nội dung đơn đề nghị ngày 11/7/2017 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị N trình bày: Chị là vợ anh Phạm Văn T, về nguồn gốc thửa đất vợ chồng chị đang ở bị lấn chiếm là của bố mẹ chồng chị (ông bà Phạm Văn T ) cho từ năm 1986 khi chị về làm dâu, năm 1987 vợ chồng chị đã xây nhà trên khuân viên thửa đất, năm 1998 thì Nhà nước cấp sổ đỏ cho vợ chồng. Cuối năm 2015 đầu năm 2016 anh B là con trai ông T dỡ nhà cũ xây nhà mới đã lấn chiếm sang đất của vợ chồng chị. Nay chị đề nghị Tòa án yêu cầu anh B phải tháo dỡ nhà và công trình mà anh B đã xây lấn chiếm sang phần đất nhà chị. Vì công việc bận chị xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai ngày 05/6/2017 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị T trình bày: Chị là vợ anh Phạm Văn B vợ chồng chị kết hôn vào năm 2007, hiện vợ chồng chị đã làm nhà trên đất của bố mẹ chồng (ông bà Phạm Văn T ). Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất chị không biết chỉ biết là của bố mẹ chồng. Nay anh T hộ liền kề khởi kiện tranh chấp ranh giới cho là vợ chồng chị đã xây dựng lấn chiếm trên phần đất của gia đình anh. Vì công việc bận lên chị không tham gia giải quyết vụ án, chị xin được vắng mặt. Chị ủy quyền cho chồng chị là anh Phạm Văn B  tham gia giải quyết vụ án.

Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 11/7/2017 và tài liệu chứng cứ do UBND xã G cung cấp: Về nguồn gốc hiện tại do ông Phạm Văn T và anh Phạm Văn T đang sử dụng là của cụ Phạm Văn Tr (là bố đẻ của ông Phạm Văn T và ông Phạm Văn T) ông T là bố để của anh T. Tại tờ bản đồ năm 1988 đã thể hiện chủ sử dụng là ông T và ông T (phần đất của cụ T tách làm hai phần). Năm 1997 sau khi tiến hành khảo sát đo đạc hộ ông Phạm Văn T và hộ anh Phạm văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số; 460/QĐ - UB của UBND huyện G ngày 01/7/1998 cấp đại trà cho 2057 hộ của xã G và được thể hiện trên bản đồ địa chính năm 1998 (tờ bản đồ số 30), hộ ông Phạm Văn T thửa số 6 diện tích 1000 m2, hộ anh Phạm Văn T thửa số 7 diện tích 1030 m2. Khoảng đầu năm 2016 anh B xây dựng ngôi nhà 2 tầng trên diện tích đất của ông T thì hai bên mới xảy ra tranh chấp. Trước khi xây dựng chưa xin phép UBND xã nên khi xảy ra tranh chấp UBND xã mới biết. Ngày 06/7/2016 UBND xã G căn cứ đơn đề nghị ngày 26/02/2016 của hộ ông Phạm Văn T đề nghị xác nghị xác định ranh giới, tại biên bản làm việc anh T cho là từ trước đến nay gia đình anh chỉ sử dụng phần đất của bố mẹ để lại. Khi xây nhà cũng xây dựng trên nền cũ và không lấn chiếm đất của ông T , nhưng anh T không ký biên bản.

Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản tranh chấp kết quả như sau:

Về diện tích đất các hộ thực tế đang sử dụng: Hộ ông Từ 926,565 m2; Hộ anh T 1118,175 m2.

Về đất theo anh T chỉ mốc giới cho rằng hộ ông T xây dựng lấn chiếm tổng là: 27,65 m2; Về giá trị xây dựng trên 27,65 m2 đất mà hộ ông T đã xây dựng tổng là: 52.513.000 đồng. Về xác định thiệt hại do bị đơn xây nhà làm nứt nhà nguyên đơn qua thẩm định không xác định được thiệt hại. Móng nhà anh T xây giật cấp cách mặt tường phía ngoài 0,2m. Tường nhà và tường bao nhà anh B xây móng thẳng đứng.

Về giá chuyển nhượng quyền sử dụng ở địa phương là: 300.000 đồng/m2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao thủy phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu đòi đất của anh Phạm Văn T và đề nghị lấy khoảng cách của 2 ngôi nhà (nhà ông T và nhà anh T ) để vạch đường ranh giới cũng như yêu cầu của anh T về việc yêu cầu gia đình ông T phải bồi thường do việc xây nhà làm rạn nứt nhà anh T .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa: Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị N có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ tranh chấp trong vụ án là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn dỡ bỏ công trình xây dựng để trả lại đất cho rằng bị đơn lấn chiếm của mình và yêu cầu phân định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các bên. Theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy.

[3] Về nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp giữa các bên là đất của cụ Phạm Văn T sau khi chết để lại cho 02 con là ông Phạm Văn T và ông Phạm Văn T sử dụng (anh T là con của ông T ), tại tờ bản đồ năm 1988 của xã G đã thể hiện chủ sử dụng là ông T và ông T (phần đất của cụ T tách làm hai phần). Năm 1997 sau khi tiến hành khảo sát đo đạc hộ ông Phạm Văn T và hộ anh Phạm văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số: 460/QĐ - UB của UBND huyện G ngày 01/7/1998 cấp đại trà cho 2057 hộ của xã G và được thể hiện trên bản đồ địa chính năm 1998 (tờ bản đồ số 30), hộ ông Phạm Văn T thửa số 6 diện tích 1000 m2, hộ anh Phạm Văn T thửa số 7 diện tích 1030 m2. Quá trình sử dụng đất hai bên đi chung ngõ rộng khoảng 2m từ đường dong đến hết thửa đất, nhưng theo ông T năm 1972 ông làm nhà ông để lối đi ra vườn sau, còn anh T cho rằng năm 1987 anh xây nhà trên nền móng nhà cũ của bố mẹ anh và có thỏa thuận với ông T là để lối đi chung. Như vậy lối đi chung có trước năm 1987 như ông T  khai là phù hợp. Đến năm 2016 ông T cho con trai là anh Phạm Văn B làm nhà trên đất thì anh T cho rằng anh B đã xây nhà lấn sang đất của gia đình anh, anh yêu cầu phải dỡ bỏ phần xây lấn chiếm trả lại đất cho anh tổng là 27,65 m 2. Khảo sát thực địa thì dậu ngõ và gạch nát ngõ các bên đã dỡ bỏ không xác định được mốc giới và diện tích. Theo bản đồ địa chính xã G năm 1998 không thể hiện ngõ đi chung của hai hộ, tiếp giáp tứ cận không có số đo. Căn cứ diện tích đất các bên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ anh T là 1030 m2  nhưng diện tích đất thực tế đang sử dụng là 1118,175 m2, như vậy đất của hộ anh T sử dụng diện tích nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn hộ ông T thực tế sử dụng là 926,565 m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1000 m2, như vậy hộ ông T thiếu đất. Cho nên yêu cầu của anh Phạm Văn T đòi hộ ông Phạm Văn T trả cho anh 27,65 m2 đất là không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai hộ được xác định như sau: Hiện tường nhà anh T và tường nhà do anh B xây còn cách nhau phía tường sau nhà anh T là 0,6 m và phía trước là 0,53m. Móng nhà anh T xây giật cấp cách mặt tường phía ngoài 0,2m. Tường nhà và tường bao nhà anh B  xây móng thẳng đứng. Để đảm bảo cho các bên sử dụng công trình không ảnh hưởng đến việc thoát nước mái cũng như ô văng phía trên. Nên xác định đường ranh giới cách tường nhà anh B 0,2m về phía đất nhà anh T chạy song song cho đến hết tường nhà của anh B , còn đối với tường bao lấy mặt tường ngoài tường bao của nhà anh B làm ranh giữa hai bên. Cụ thể lấy góc ngoài cùng tường bao do anh B  xây dựng giáp với đường dong kéo theo mặt ngoài tường bao về phía bắc (phía sông) dài 20,3m, đến đoạn gấp khúc 1,1m lấy cách tường nhà anh B 0,2m kéo 01 đường thẳng cách đều 0,2m về phía bắc (phía sông) dài 21,9m, còn ranh giới nối tiếp phía sau nhà là mặt phía ngoài của tường bao anh B đã xây cho đến hết thửa đất.

[5] Đối với yêu cầu thiệt hại do gia đình bị đơn xây dựng làm nứt nhà anh T do anh T rút yêu cầu giám định về xây dựng và qua thẩm định không xác định được thiệt hại. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Đối với giá trị 27,65m2 đất x 300.000 đồng/m2= 8.295.000 đồng, do không chấp nhận yêu cầu của anh T nên anh T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, thì anh T phải nộp 2.000.000 đồng (đã nộp).

8] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 175 và Điều 176 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Điều 147, 157,165, khoản 1 Điều 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T về việc buộc hộ ông Phạm Văn T  tháo dỡ công trình xây dựng trả lại cho anh 27,65m2 đất.

- Ranh giới giữa hộ ông Phạm Văn T và hộ anh Phạm Văn T được xác định như sau: Lấy góc ngoài cùng tường bao do anh B xây dựng giáp với đường dong kéo theo mặt ngoài tường bao bao về phía bắc (phía sông) dài 20,3m, đến đoạn gấp khúc 1,1m lấy cách tường nhà anh B 0,2m kéo 01 đường thẳng cách đều 0,2m về phía bắc (phía sông) dài 21,9m, còn ranh giới nối tiếp phía sau nhà là mặt phía ngoài của tường bao anh B đã xây cho đến hết thửa đất. (có sơ đồ kèm theo).

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Văn T phải nộp 410.000 đồng, số tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp theo biên lai thu số 07556 ngày 22/02/2017 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy được đối trừ, nay còn phải nộp tiếp 110.000 đồng.

3. Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản anh Phạm Văn T phải nộp 2.000.000 đồng (đã nộp).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2017/DSST ngày 25/09/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:11/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về