Bản án 11/2017/HSST ngày 11/07/2017 về tội hủy hoại tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 11/2017/HSST NGÀY 11/07/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2017/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2017, đối với:

Bị cáo Bùi Khắc C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 1/12; con ông Bùi Khắc X (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ tên là Vũ Thị H; có 02 con, lớn 15 tuổi, nhỏ 06 tuổi; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 472/HSST ngày 17 ngày 11 tháng 2008 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đ xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội đánh bạc; ngày 13 tháng 02 năm 2012 Công an phường N, thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc; bị tạm giữ ngày 15 tháng 5 năm 2017, bị tạm giam ngày 21 tháng 5 năm 2017; có mặt.

Người bị hại: Chị Phạm Bích L (tên gọi khác là H), sinh năm 1977; trú tại: khu B, đường C, phường T, thành phố H, tỉnh Nam Định, có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Bùi Khắc C1, sinh năm 1981, có mặt.

2. Anh Trần Trọng A, sinh năm 1985, có mặt.

3. Cháu Bùi Khắc C2, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2002, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu C2: Anh Bùi Khắc C1, sinh năm 1981, là bác, có mặt.

Những người làm chứng cùng trú tại: Thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Nam Đnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 14 tháng 5 năm 2017, chị Phạm Bích L đến nhà bị cáo C ở thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Nam Định để đòi nợ, chị L đứng ngoài cổng gọi bị cáo ở trong nhà không trả lời, bị cáo sai con trai là Bùi Khắc C2 ra khoá cổng lại, chị L đã có lời lẽ to tiếng với bị cáo. Bị cáo từ trong nhà ra mở cổng và dùng tay trái túm cổ áo chị L, dùng tay phải tát vào mặt chị L. Lúc đó, chị L lấy điện thoại Iphone 5S màu vàng để ở trong túi xách đeo trên người gọi điện, thấy vậy bị cáo dùng tay phải đập mạnh một nhát vào tay trái của L đang cầm điện thoại Iphone 5S màu vàng, làm chiếc điện thoại văng ra, rơi xuống nền ngõ trước cổng và bị vỡ hoàn toàn. Sau đó, bị cáo tiếp tục dùng tay phải túm cổ áo kéo chị L vào trong sân đến khu vực trước hiên nhà bị cáo, bị cáo cầm chiếc dép đánh chị L. Chị L tiếp tục lấy chiếc điện thoại Iphone 5 màu đen để ở trong túi xách để gọi điện thoại, bị cáo liền dùng tay phải đập một nhát vào chiếc điện thoại Iphone 5 màu đen mà chị L đang cầm làm cho chiếc điện thoại bị rơi xuống nền hiên nhà vỡ hỏng, bị cáo tiếp tục dùng chân phải giẫm lên chiếc điện thoại này nhưng không giẫm trúng. Sự việc xảy ra được một số người dân đến can ngăn nên đã dừng lại. Trong quá trình hai bên xô xát, giằng co đã làm đứt mặt dây chuyền vàng của chị L và rơi xuống ở vị trí sân giáp hiên trước cửa phòng khách nhà bị cáo, bị cáo không biết việc rơi mặt dây chuyền vàng của chị L.

Vật chứng thu giữ: Một chiếc điện thoại di động Iphone 5S màu vàng đã cũ bị vỡ hoàn toàn mặt trước màn hình, phía trên màn hình bị bật gá khỏi khung điện thoại và một chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu đen bị cong vênh, không còn màn hình bên trong có một sim Vinaphone; một mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình tròn có đường kính 2,5cm, bên trong vòng tròn có khắc chữ D bằng kim loại màu trắng.

Tại kết luận định giá tài sản số 05/ĐG-HĐĐG ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mỹ Lộc kết luận: Một chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu đen đã cũ trước khi bị làm vỡ có giá là 1.600.000 đồng; một chiếc điện thoại di động Iphone 5S màu vàng đã cũ trước khi bị làm vỡ có giá là 2.200.000 đồng. Tổng giá trị là 3.800.000 đồng.

Đối với hành vi gây thương tích cho chị L của bị cáo C, chị L có đơn xin từ chối giám định và tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, nên cơ quan điều tra chỉ xử lý hành chính đối với bị cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác.

Đối với hai chiếc điện thoại di động Iphone 5S màu vàng và Iphone 5 màu đen đã bị hỏng hoàn toàn không còn giá trị sử dụng, chị L không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị o.

Về việc chị L trình báo với cơ quan điều tra, trong quá trình hai bên xô xát, chị L bị rơi mất một mặt dây chuyền vàng, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, trưng cầu định giá tài sản và xác định mặt dây chuyền là vàng Hàn Quốc không bị hư hỏng thiệt hại gì. Chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Về số tiền 23.000.000 đồng, chị L khai bị mất trong lúc xô xát, đánh nhau, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không có căn cứ để chứng minh chị L đã bị mất số tiền này. Chị L xin tự chịu trách nhiệm về việc bị mất số tiền này và không có khiếu nại gì.

Tại phiên toà, bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo trình bày có bố tham gia quân đội. Gia đình của bị cáo đã xuất trình huân chương và nhiều bằng khen mà bố của bị cáo được Nhà nước trao tặng. Người bị hại và những người làm chứng trình bày sự việc xảy ra đúng như lời khai của họ tại cơ quan điều tra; về bồi thường dân sự, người bị hại giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 12/CTr-KSĐT ngày 31/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc đã truy tố bị cáo Bùi Khắc C về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1, Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (dưới đây viết tắt là BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 143; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của BLHS; áp dụng điểm x khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo có mẹ già, con còn nhỏ không có người chăm sóc để cho bị cáo được hưởng mức án ở đầu khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Công không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Khắc C. Lời khai nhận tội của bị cáo C tại phiên toà phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng có mặt tại phiên tòa và các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 14 tháng 5 năm 2017, tại nhà ở của bị cáo Bùi Khắc C ở thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Nam Định, bị cáo C do bực tức việc bị chị Phạm Bích L có lời nói xúc phạm đến mình nên đã có hành vi dùng tay đập vào tay chị L, để làm rơi vỡ hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 của chị L làm cho hai chiếc điện thoại bị hỏng hoàn toàn, không còn khả năng sử dụng. Giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác, gây mật trật tự xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1, Điều 143 của BLHS. Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc đã truy tố là có căn cứ.

Do cách ứng xử giữa bị cáo và người bị hại, bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của chị L đã bị xử lý hành chính và đồng thời có hành vi hủy hoại hai chiếc điện thoại di động của chị L, hành vi xâm phạm sở hữu tài sản này là nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo C. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm p khoản 1, Điều 46 của BLHS. Xem xét việc bố của bị cáo đã có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam được tặng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba; theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016, khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ có lợi là bố của bị cáo là người có công với cách mạng theo điểm x khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xem xét đến việc người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và người bị hại cũng có một phần lỗi, đây là những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại khoản 2 Điều 46 của BLHS.

Cân nhắc đến hoàn cảnh của gia đình bị cáo con còn nhỏ không có người chăm sóc; nhân thân của bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội đánh bạc, bị cơ quan công an xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2, Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Khắc C phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 143; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 144/2016/QH13; khoản 3, Điều 7; điểm x khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt Bùi Khắc C 12 (mười hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 5 năm 2017, tiếp tục tạm giam bị cáo C để bảo đảm cho việc thi hành án.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2, Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Bị cáo C phải nộp án phí là 200.000 đồng.

Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. 


975
Án lệ được căn cứ
     
    Bản án/Quyết định phúc thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về