Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/02/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 02 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 về: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2017/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2017 và Thông báo mở lại phiên tòa số 03/TB-TA ngày 17 tháng 01 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) – sinh năm 1988. Có mặt.

Địa chỉ cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Mai Trung T – sinh năm 1976. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16-11-2017 và trong quá trình xét xử, nguyênđơn, chị Bàn Thị Vân A trình bày:

Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Mai Trung T trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 02-12-2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời, nghiện chất ma túy, tôi đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi, đến tháng 01/2015 chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Trung T

Về nuôi con chung: Không có

Về chia tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Mai Trung T không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Kết quả xác minh gia đình anh Mai Trung T cho thấy: Anh Mai Trung T và chị Bàn Thị Vân A kết hôn vào năm 2014, sau khi kết hôn chị A về chung sống với anh T tại tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Trong quá trình chung sống do anh T nghiện ma túy nên hai vợ chồng thường xảy ra cãi nhau, gia đình đã khuyên bảo hai bên nhiều lần. Đến tháng 01 /2015 thì chị A chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái sinh sống từ đó cho đến nay, không còn liên lạc với nhau nữa. Anh T và chị A không có con chung; Không nắm được tài sản chung và nợ chung của anh T và chị V.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Mai Trung T có đăng ký hộ khẩu thường trú tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình.

[2] Về hôn nhân: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) và anh Mai Trung T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 02-12-2014, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Bàn Thị Vân A xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T nghiện chất ma túy, hai bên thường xảy rã cãi nhau, anh chị đã tự hòa giải nhưng không được. Chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái sinh sống từ tháng 01/2015 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Thực tế tình trạng mâu thuẫn và cuộc sống chung của chị A và anh T đã được gia đình anh T xác nhận. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Bàn Thị Vân A và anh Mai Trung T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Bàn Thị Vân A là chính đáng và có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không có mặt, thể hiện anh T không có thiện chí hòa giải. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) được ly hôn anh Mai Trung T.

[3] Về nuôi con chung: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) và anh Mai TrungT không có con chung.

[4] Về chia tài sản và nợ chung: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14  ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) được ly hôn anh Mai Trung T.

2. Về án phí: Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 05279 ngày 16-11-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình (Chị Bàn Thị A – Bàn Thị M đã nộp đủ án phí).

Chị Bàn Thị Vân A (Bàn Thị M) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Mai Trung T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


133
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Bình - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về