Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/02/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 373/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ph - sinh năm 1990 (có mặt)

Bị đơn: Anh Lê Thanh  Ngh - sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ nơi cư trú: Số nhà 853, Tổ 10, Ấp 10 (Nay là Ấp 6), xã Đắc L, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2017, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Ph trình bày

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh Ngh kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã Đắc L, huyện P, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/11/2012.

Đời sống hôn nhân của vợ chồng chị đầm ấm, hạnh Ph được 03 (ba) năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Ph là do anh Ngh có biểu hiện ngoại tình, vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng. Hơn nữa, anh Ngh còn có hành vi bạo lực gia đình. Những việc này chị Ph chỉ khai chứ không có gì chứng minh. Do mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng, nên vào  tháng 5/2017, chị đã khởi kiện xin ly hôn với anh Ngh, Tòa án đã tiến hành hòa giải cho vợ chồng, tại phiên hòa giải anh Ngh hứa sẽ thay đổi bản thân nên chị đồng ý rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ. Mặc dù vậy, anh Ngh vẫn chứng nào tật nấy, không thay đổi tính tình. Do không thể tiếp tục chung sống, nên nay chị tiếp tục khởi kiện xin ly hôn với anh Ngh. Từ tháng 6/2017, chị Ph và anh Ngh đã không còn sống chung với nhau. Nay chị Ph nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh Ngh.

Về nuôi con chung: Theo chị Ph, vợ chồng chị có 01 (một) con chung Lê Thị Bảo Ng, sinh ngày 31/3/2013. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tạm thời chị Ph không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con chung do bản thân chị hiện có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung:

Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Thanh Ngh mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử không có ý kiến, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: Giấy chứng minh nhân dân (bản sao); sổ hộ khẩu của gia đình (bản sao); giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai sinh của con chung (bản sao); lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; đơn đề Ngh Tòa án hỗ trợ sao gửi tài liệu, chứng cứ; đơn đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn. Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng.

Tại phiên tòa, chị Ph vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Ngh, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử Ngh án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Ph ly hôn với anh Ngh; về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Thị Bảo Ng, sinh ngày 31/3/2013 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ngh do chị Ph không yêu cầu; về tài sản chung: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung: Chị Ph khai không có, nên không xem xét; đối với anh Ngh nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Thị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh Ngh, tranh chấp về nuôi con chung là Lê Thị Bảo Ng – sinh ngày 31/3/2013. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Lê Thanh Ngh cư trú tại xã Đắc L, huyện P, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Thanh Ngh đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải…) cho anh Ngh, quá thời hạn ấn định nhưng anh Ngh không có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, từ đó có thể thấy rằng, anh Ngh đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ph và anh Ngh được xác lập trên cở sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắc L, huyện P, tỉnh Đồng Nai vào ngày 08/11/2012, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định, vào sổ cấp giấy số 75, quyển số 01/2012 (bút lục số 07), do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Đời sống hôn nhân của vợ chồng chị Ph, anh Ngh đầm ấm, hạnh Ph được 03 (ba) năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ngh ham chơi, không chăm lo cho gia đình, chị Ph đã nhiều lần khuyên bảo và cho anh Ngh cơ hội sửa chữa nhưng anh Ngh vẫn không thay đổi tính tình. Từ tháng 6/2017 chị Ph và anh Ngh đã không sống chung. Vào tháng 8/2017, do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị Ph đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Ngh, sau đó chị đã rút đơn khởi kiện nhằm tạo cơ hội cho vợ chồng đoàn tụ. Mặc dù vậy, mâu thuẫn vợ chồng vẫn ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không thể đoàn tụ gia đình. Lời khai của nguyên đơn về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng (Bút lục số 25, 26, 28, 29). Do đó có đủ cơ sở xác định: Vợ chồng chị Ph, anh Ngh trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị Ph đối với anh Ngh là có cơ sở.

[2.2] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ph và anh Ngh có 01 (một) con chung là Lê Thị Bảo Ng, sinh ngày 31/3/2013. Khi ly hôn, chị Ph yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung, cháu Ng do chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ph có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, để không xáo trộn đời sống của con trẻ, cần tiếp tục giao con chung cho chị Ph nuôi dưỡng theo như yêu cầu của chị là phù hợp. Tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ngh do chị Ph không có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Chị Ph khai không có, nên không xem xét; đối với anh Ngh nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Ph là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó chị Ph phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147, và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[4] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ph về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” đối với anh Lê Thanh Ngh.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Lê Thanh Ngh.

1.2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Lê Thị Bảo Ng, sinh ngày 31/3/2013 cho chị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ngh do chị Ph không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, pháp luật vẫn bảo hộ mọi quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở, quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung….)

1.3. Về tài sản chung: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung, chị Ph khai không có, nên không xem xét, giải quyết. Dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung của vợ chồng cho anh Ngh nếu anh Ngh có yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Ph đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 007481 ngày 13/10/2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Chị Ph đã nộp đủ án phí.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

3. Về quyền kháng cáo: Chị Ph được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; anh Ngh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


84
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về