Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 08/03/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNTHANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2017/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Ngọc H - sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Khu 12, thị trấn T, huyện T, tỉnh P.

Bị đơn: Anh Bùi Việt H - sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 12, thị trấn T, huyện T, tỉnh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc H trình bày:

Chị và anh Bùi Việt H đã tự nguyện tìm hiểu và được Ủy ban nhân dân thị trấn T đăng ký kết hôn vào ngày 01/7/2013. Sau khi kết hôn chị về chung sống tại gia đình nhà chồng tại khu 12, thị trấn T, huyện T, tỉnh P. Vợ chồng chị chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được hơn một năm thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh H không tin tưởng chị và cho rằng con chị sinh ra không phải là con của anh H. Khi chị đi làm, do công việc nên chị không thể về sớm, anh H đã gây sự, chị nói thì anh chửi chị, vợ chồng xảy ra xô xát nhiều lần. Anh H không chịu lao động, khi đi làm thì không đưa tiền cho chị để lo cho con, nghe lời một phía từ bố mẹ, bản thân không có lập trường. Từ khi xảy ra xô xát, gia đình hai bên khuyên giải nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp diễn. Vì không thể tiếp tục chung sống được với anh H nữa nên từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay chị và anh H đã sống ly thân, hai bên không còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh H không còn nữa, chị xin được ly hôn anh H.

Chị và anh H có một con chung là Bùi Quỳnh A - sinh ngày 15/5/2014, hiện nay, cháu đang ở cùng chị. Nếu được ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu, tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất nông nghiệp: Chị và anh H không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử: Toà án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên về phiên họp chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn là anh Bùi Việt H vắng mặt không có lý do vì vậy Toà án không thể lấy lời khai cũng như hoà giải vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Việt H là bị đơn trong vụ án vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập, niêm yết công khai hợp lệ như: Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh H là hoàn toàn phù hợp điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Ngọc H và anh Bùi Việt H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không vi phạm điều cấm của Pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa chị H và anh H là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng chỉ kéo dài được thời gian ngắn thì mâu thuẫn phát sinh. Theo trình bày của chị H thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh H không tin tưởng chị, vợ chồng chung sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay chị và anh H đã sống ly thân, ai có cuộc sống riêng của người đó. Tại phiên tòa phiên tòa cũng như nhiều lần khác, Tòa án đã triệu tập anh H nhưng không lần nào anh H có mặt, điều đó thể hiện việc anh H không hợp tác, không có trách nhiệm đối với việc duy trì hôn nhân, hạnh phúc gia đình.

Từ đó có thể khẳng định: Mâu thuẫn giữa chị H và anh H đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]  Về con chung: Chị Vũ Thị Ngọc H xác nhận, chị và anh H có 01 con chung là Bùi Quỳnh A - sinh ngày 15/5/2014. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu, anh H không có trách nhiệm gì đối với việc nuôi dưỡng con chung. Đến nay, chị H vẫn tiếp tục yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Quỳnh A và tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của chị H là hoàn toàn chính đáng thể hiện trách nhiệm của người mẹ đối với con. Do vậy, để cháu A có cuộc sống ổn định, có đủ điều kiện để phát triển cả về thể chất và tinh thần nên giao cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở phù hợp thực tế. Do chị H tự nguyện không yêu cầu nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi cháu A cùng chị H.

* Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất ruộng: Chị Vũ Thị Ngọc H xác nhận, chị và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng anh H vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử  không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ giải quyết bằng một vụ, việc dân sự khác khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu.

* Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử: Cho chị Vũ Thị Ngọc H được ly hôn anh Bùi Việt H.

* Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Bùi Quỳnh A - sinh ngày 15/5/2014. Anh Bùi Việt H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

*Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp và đất ruộng:

Không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác, khi đương sự có yêu cầu.

* Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc H phải chịu 300.000.đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Vũ Thị Ngọc H đã nộp 300.000.đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: AA/2015/0003994 ngày 23/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 08/03/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về