Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2018/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2018 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị DTH, sinh năm 1981, có mặt

Nơi cư trú: Thôn V, xã X, huyện N, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Bị đơn: Anh KXS, sinh năm 1979, vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 06/3/2018 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị DTH trình bày:

Chị kết hôn với anh KXS vào ngày 08/11/1999, kết hôn được tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N. Kết hôn xong vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh S tại xã X. Quá trình chung sốngvợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, phát sinh những cãi vã từ nhỏ đến lớn, anh S không quan tâm đến vợ con, có biểu hiện quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không chịu khó làm ăn, chơi bời, cờ bạc, thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con. Những năm gần đây anh S thường xuyên bỏ nhà đi, không nói rõ đi đau, có lúc nói là đi làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ thỉnh thoảng về nhà nhưng không hề cho vợ con đồng nào. Đến tháng 01 năm 2018, chị về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị xin được ly hôn anh KXS.

Con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là KMH, sinh ngày 08/3/2001 và KVH, sinh ngày 16/6/2011. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu H, để anh S nuôi cháu H và các bên không phải đóng góp nuôi con chung cùng nhau.

Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh KXS quá trình giải quyết vụ án luôn vắng mặt, không có mặt để trình bày quan điểm và tham gia hòa giải tại Tòa án. Qua xác minh tại địa phương và gia đình anh S thì hiện nay anh S đi làm ăn vắng nhà nhưng vẫn thường xuyên về nhà tại thôn P, xã X. Việc Tòa án giải quyết ly hôn có gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo hòa giải, thông báo giải quyết vụ án… cho anh S và niêm yết đầy đủ các giấy tờ tại nơi cư trú của anh S. Gia đình anh S nhận dược các loại giấy tờ của Tòa án, anh S biết việc giải quyết ly hôn nhưng anh S cố tình không đến, mục đích là gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân huyện N đã tống đạt, niêm yết các giấy tờ, văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên thòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh KXS đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị H và anh S được ly hôn; con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi cả 02 con chung là cháu KMH và cháu KVH, Anh S không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị H; tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị ĐTH xin ly hôn anh KXS và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đối với bị đơn anh KXS, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn KXS nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh S theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

[1] Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị ĐTH và anh KXS là cuộc hôn nhân tiến bộ, hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng kết hôn và đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng do vợ chồng không bảo ban được nhau, không quan tâm đến nhau, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, nghi ngờ lẫn nhau về việc có quan hệ ngoại tình.

Qua xác minh tại địa phương xã Xuân Hòa, làm việc với mẹ đẻ của anh S là bà NTT thì: vợ chồng anh S và chị H mâu thuẫn với nhau là do vợ chồng làm ăn thua lỗ, kinh tế sa sút, vợ chồng không bảo ban được nhau, nghi ngờ nhau quan hệ trai gái, từ đó thường xuyên đánh cãi chửi nhau và sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay.

Bà NTT còn xác định việc Tòa án báo gọi, triệu tập anh S đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, bà là người nhận các loại văn bản, giấy tờ và đã thông báo lại cho anh S nhưng anh S không đến Tòa án làm việc, anh S cũng từ chối cung cấp địa chỉ cụ thể của anh. Điều đó thể hiện việc anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình, cố ý vắng mặt gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Xét mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau và làm cho cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Nên cần giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S để giải phóng cho các bên đương sự.

[2] Về con  chung: vợ chồng  chị  có  02  con  chung  là  KMH, sinh ngày 08/3/2001 và KVH, sinh ngày 16/6/2011. Hiện nay các cháu đang ở với chị H. Quá trình giải quyết vụ án anh S không có mặt tại Tòa án, cũng không thường xuyên sinh sống tại địa phương nên không có căn cứ để giao con cho anh S nuôi. Ly hôn cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc được nuôi cả 02 con chung là cháu H và cháu H, anh S  không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị H.

[3] Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[1] Về Hôn nhân: Xử, cho ly hôn giữa chị ĐTH và anh KXS.

[2] Về con chung: Giao cho chị ĐTH trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả 02 con chung là: cháu KMH, sinh ngày 08/3/2001 và cháu KVH, sinh ngày 16/6/2011. Anh S không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị H.

Vì quyền lợi của con chung, sau khi ly hôn, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức đóng góp nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định, không ai được cản trở.

[3] Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Án phí: Chị ĐTH phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0001470 ngày 06/03/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đát bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực  hiện theo quy định tại Điều 30Luật thi hành án dân sự.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về