Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:220/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:33/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Minh T, sinh năm 1981, vắng mặt;

Địa chỉ cư trú: Số XX, tổ 4, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

 - Bị đơn: Trần Sao L, sinh năm 1985, vắng mặt;

Địa chỉ cư trú: Số XXX, đường Đ, khóm A, phường T, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị N (mẹ chị L), sinh năm 1950, vắng mặt;

2. Trần Văn P (cha chị L), sinh năm 1945, vắng mặt;

Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, phường T, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 12 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trần Minh T trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2007, anh Trần Minh T và chị Trần Sao L có tổ chức đám cưới và ngày 19 tháng 11 năm 2007, anh T và chị L đã đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Trong thời gian chung sống vợ chồng có một người con chung tên là Trần Thanh S, sinh ngày 13/11/2006 (hiện cháu S đang sống chung với anh T). Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau, thường hay gây gỗ, cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc.

Năm 2010, chị L dẫn theo con trai (S) về nhà cha, mẹ ruột ở khóm A, phường T, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2016, chị L giao con lại cho anh T nuôi dưỡng; tính đến nay, anh và chị L đã ly thân hơn bảy năm, nên anh T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng và không thể kéo dài.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Minh T nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên anh T xin ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh Trần Minh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên là Trần Thanh S, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2006 (cháu S có nguyện vọng và đang sống chung với anh T) và không yêu cầu chị L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tòa án nhân dân thị xã N đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Trần Sao L đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, nhưng chị L không ý kiến phản đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: anh T và chị L được ly hôn; về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Thanh S cho anh T trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

Anh Trần Minh T khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh Trần Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Trần Sao L được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã N thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Nguyên đơn là Trần Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn là chị Trần Sao L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về hôn nhân: Ngày 19 tháng 11 năm 2007, anh T và chị L đã đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận B, thành phố Cần Thơ là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau, thường hay gây gỗ, cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Năm 2010, chị L dẫn theo con trai tên là Trần Thanh S về nhà cha, mẹ ruột ở khóm A, phường T, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2016, chị L giao con lại cho anh T nuôi dưỡng.

[4] Từ năm 2010 cho đến nay, anh T và chị L đã ly thân; anh T và chị L đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời, Tòa án đã tống đã các văn bản tố tụng, trong đó có thông báo thụ lý vụ án, nhưng chị L cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu xin nuôi con của anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận cho ly hôn.

[5] Về con chung: Anh T xin được nuôi dưỡng con chung tên S, còn chị L cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu xin nuôi con của anh T, Hội đồng xét xử xét thấy anh Trần Minh T đang nuôi con chung tên Trần Thanh S, phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác và cháu S có nguyện vọng sống chung với anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

[6] Về cấp dưỡng: Anh Trần Minh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thanh S, nhưng anh T không yêu cầu chị L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

[8] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

[9] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và giao con chung cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ, nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vậy, anh Trần Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng; chị Trần Sao L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 Mục 1 phần II (Danh mục án phí) của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Anh Trần Minh T và chị Trần Sao L được ly hôn.

Về con chung: Anh Trần Minh T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Trần Thanh S, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2006.

(Hiện cháu Trần Thanh S, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2006 đang sống chung với anh Trần Minh T).

Về cấp dưỡng: Anh Trần Minh T không yêu cầu chị Trần Sao L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung tên là Trần Thanh S, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2006. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Anh Trần Minh T cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Trần Sao L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Anh Trần Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số:02466 ngày 27 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N, tỉnh Đồng Tháp; anh Trần Minh T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

- Chị Trần Sao L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Trần Minh T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24 tháng 5 năm 2018). Đối với chị Trần Sao L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hồng Ngự - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/05/2018
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về