Bản án 11/2019/HNGĐST ngày 20/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐST NGÀY 20/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 20/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 22/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/3/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2019 giữa:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1998

HKTT: thôn Nghiêm Xá, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Hiện trú tại: thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Anh Nguyễn Huy V, sinh năm 1987

HKTT: thôn Nghiêm Xá, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị D trình bày: Chị kết hôn cùng anh Nguyễn Huy V vào năm 2016 trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, sau khi kết hôn chị về làm dâu gia đình anh V luôn. Vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 02/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh V không chịu làm ăn suốt ngày chơi bời, nghiện hút ngáo đá thậm chí còn đánh chị. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm không ai quan tâm tới ai từ tháng 7/2017 đến nay. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn không thể đoàn tụ được chị xin được ly hôn anh V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thái A, sinh ngày 27/7/2017, hiện tại cháu đang ở cùng anh V, nay ly hôn chị xin được nuôi cháu không yêu cầu anh V phải góp phí tổn nuôi con, vì chị có công ăn việc làm và thu nhập ổn định.

Về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết. Về công sức, công nợ: không có.

Chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm: Đơn xin ly hôn, CMTND, Sổ hộ khẩu ( bản sao), giấy khai sinh của con ( bản sao), Giấy chứng nhận kết hôn ( bản chính ), chị đã thực hiện việc gửi tài liệu cho bị đơn .

Về phía bị đơn là anh Nguyễn Huy V: Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần có giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp, cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh V nhận nhiều lần xong anh V vẫn cố tình không lên Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Chứng tỏ anh V đã tước bỏ quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ kiện, xong anh V vẫn không đến Tòa án làm việc, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn anh Nguyễn Huy V.

Tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật: Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đầy đủ, bị đơn không chấp hành.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị HĐXX: Xử cho chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Nguyễn Huy V, về con chung giao cho chị D nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thái An, phí tổn nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức: không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Hoàng Thị D kết hôn với anh Nguyễn Huy V vào năm 2016 trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 02/2017 thì phát sinh mâu thuẫn ,nguyên nhân là do anh V chơi bời không chịu làm ăn. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ không ai quan tâm tới ai nữa từ tháng 7/2017 đến nay. Việc chị Hoàng Thị D có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Huy V, xong anh V đã được Tòa án triệu tập lên Tòa án làm việc xong anh V vẫn cố tình không lên Tòa làm việc. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị D giải phóng cho cả đôi bên là phù hợp.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thái A, sinh ngày 27/7/2017 hiện tại cháu đang ở với anh V, xong hiện nay anh V không có nghề nghiệp thu nhập gì ổn định, chị D lại có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, nay ly hôn chị D có nguyện vọng xin được nuôi cháu Avà không yêu cầu anh V phải góp phí tổn nuôi con. Hội đồng xét xử thấy cần giao cho chị D trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Thái Anh là phù hợp với pháp luật và đảm bảo cuộc sống của cháu A.

Về tài sản, công sức, công nợ: không có.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 143, 144, 145, 147, 227, 228, 235, 266 và 267 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị D về việc xin ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Nguyễn Huy V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thái An, sinh ngày 27/7/2017 cho chị Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, phí tổn nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức: không có.

Về án phí: Chị Hoàng Thị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2018/0000567 ngày 11/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Chị D đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt bản án.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐST ngày 20/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:11/2019/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về