Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về kiện ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ KIỆN LY HÔN

Ngày 25/4/2019 tại phòng xử án - TAND huyện Ea H’Leo mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 19/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2019, về việc “Kiện ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2019 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm 1981; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 8, xã K, huyện L, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Chị Phan Thị H - sinh năm 1985; (Mất tích theo Quyết định tuyên bố một người mất tích số 05/2018/QĐDS-ST ngày 14/12/2018 của TAND huyện Ea H'leo).

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 8, xã K, huyện L, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị Phan Thị H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L vào tháng 3/2009 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H quan hệ với người đàn ông khác và bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không về. Sau nhiều lần tìm kiếm nhưng anh không biết hiện chị H ở đâu, nên anh đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phan Thị H mất tích. Ngày 14/12/2018, TAND huyện Ea H’Leo ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 05/2018/QĐDS-ST tuyên bố chị H mất tích. Nay, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho bản thân, nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Phan Thị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn A, sinh ngày 11/12/2010. Hiện cháu A đang ở với anh. Do chị H đã bỏ đi nên anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Phan Thị H. Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn A, sinh ngày 11/12/2010 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Pháp luật về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T và chị Phan Thị H có quan hệ vợ chồng, Ngày 14/12/2018, TAND huyện Ea H’Leo ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 05/2018/QĐDS-ST tuyên bố chị H mất tích, Nay anh T làm đơn xin ly hôn, TAND huyện Ea H’Leo thụ lý giải quyết là phù hợp khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Pháp luật về nội dung: Anh Nguyễn Văn T và chị Phan Thị H về sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L vào tháng 3/2009 trên cơ sở tự nguyện. Do phát sinh mâu thuẫn nên đầu năm 2016 chị H bỏ đi khỏi nơi cư trú cho đến nay không có tin tức gì. Mặc dù anh T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả, hiện không biết chị H ở đâu, nên anh T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H mất tích.

Ngày 14/12/2018, TAND huyện Ea H’Leo ra quyết định giải quyết việc dân sự số:

05/2018/QĐDS-ST tuyên bố chị H mất tích. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho bản thân, nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi về sống chung với nhau được một thời gian thì đến đầu năm 2016 chị H bỏ đi khỏi nơi cư trú đến nay không về và đã được Tòa án thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có kết quả và tin tức gì. Xét thấy, chị H biệt tích hai năm liền trở lên và không có tin tức xác thực về chị H là còn sống hay đã chết, nên Ngày 14/12/2018, TAND huyện Ea H’Leo ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 05/2018/QĐDS-ST tuyên bố chị H mất tích. Căn cứ Điều 39 và khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình thì cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T, cho anh được ly hôn với chị Phan Thị H.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Phan Thị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn A, sinh ngày 11/12/2010. Hiện nay cháu vẫn đang ở cùng với anh T và do chị H đã mất tích, nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T, giao cháu Nguyễn Văn A cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.

[3]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.

 nhận.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật nên cần chấp Vì các lẽ trên:

 QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 39; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 2 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Phan Thị H .

- Về nuôi con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn A, sinh ngày 11/12/2010 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 - Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên lai số AA/2017/0009067 ngày 15/01/2019.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về kiện ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea H'leo - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về