Bản án 11/2019/HS-PT ngày 09/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 11/2019/HS-PT NGÀY 09/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 420/2018/TLPT-HS ngày 10/12/2018, đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 64/2018/HS-ST ngày 30/10/2018, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1988, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Ô, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; con ông Trần Văn B và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Vi Thị H; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2018 đến nay; Có mặt.

Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Hữu H - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: 39 đường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ ngày 16/8/2018, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Ea Kar đang làm nhiệm vụ tuần tra trên đường thuộc buôn G, xã N, huyện Ea Kar do có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu Trần Văn T dừng xe để kiểm tra khám xét. Qua kiểm tra khám xét trên người Trần Văn T phát hiện trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá hiệu COTAB là ma túy loại Hêrôine, T khai mua về mục đích sử dụng cho bản thân, căn cứ vào lời khai của T. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang đối với Trần Văn T và thu giữ các tang vật có liên quan sau.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá hiệu COTAB, phát hiện và thu giữ trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc, Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong để gửi đi giám định; 01 điện thoại di động hiệu Massel màu đen; 01 xe mô tô biển số 47FE-5518, số máy 00020364; 01 biển số xe mô tô 98L2-1879; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008738 của xe mô tô biển số 98L2-1879, mang tên Hoàng Công T.

Tại Bản kết luận giám định số 735/GDMT-PC09 ngày 22/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0.1491 gam, loại: Hêrôine.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 64/2018/HS-ST ngày 30/10/2018, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 8 năm 2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/11/2018, bị cáo Trần Văn T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo và thành khẩn khai báo nên HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình tranh luận đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình Sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là thỏa đáng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của Trần Văn T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 16 tháng 8 năm 2018, bị cáo Trần Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0.1491 gam chất ma túy loại Hêrôine nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bản án sơ thẩm đã đánh giá nhận định một cách toàn diện, đồng thời đã xem xét đến nguyên nhân điều kiện phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bản án sơ thẩm không cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thuộc diện hộ nghèo được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là một thiếu sót cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo đựơc hưởng, đối chiếu với mức hình phạt mà tòa cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng, không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Từ các phân tích trên, HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm và như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 64/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/8/2018.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Bị cáo Trần Văn T không phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HS-PT ngày 09/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về